Ngày đăng: 19/03/2016, 02:51. Cơ sở hạ tầng logistics với việc thực chuỗi cung ứng xanh doanh nghiệp PGS.TS Vũ Anh Dũng Trường Đại học Việt-Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội Tóm tắt: Cơ sở hạ tầng bền vững (trong bao gồm sở hạ tầng logistics) bốn trụ cột quan trọng chiến csQi7s9. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI VIỆT NAM Về số lượng doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ logistics Việt Nam có khoảng 800 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics có tài liệu nói doanh nghiệp. Đây là một con số khá lớn nhưng trên thực tế đa phần lại là những doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ. Do vốn ít nên cơ cấu tổ chức doanh nghiệp cũng đơn giản, không thật sự chuyên sâu, không tổ chức được các văn phòng đại diện ở nước ngoài nên nguồn thông tin bị hạn chế, các công việc ở nước ngoài đều phải thông qua các đại lý của các công ty đa quốc gia. Điều này dẫn đến đa số các doanh nghiệp chỉ dừng lại ở việc làm đại lý cấp 2, cấp 3, thậm chí cấp 4 cho các đối tác nước ngoài có mạng lưới toàn cầu mà chưa tổ chức kết nối được các hoạt động vận tải đa phương thức. Tuy có số lượng lớn, các công ty logistics Việt Nam mới đáp ứng được 25% nhu cầu nội địa và mới chỉ tập trung vào một vài ngành dịch vụ trong chuỗi giá trị dịch vụ có doanh số hàng tỉ đô la Mỹ này. Hiện nay có nhiều công ty logistics lớn trên thế giới đã vào Việt Nam nhưng theo cam kết gia nhập WTO thì sau 5 đến 7 năm các doanh nghiệp này mới có thể thiết lập doanh nghiệp 100% vốn nước là thời gian quý báu để các doanh nghiệp Việt Nam liên kết dành thị phần. Tuy nhiên, dù chỉ mới là liên doanh liên kết, nhưng hiện thời các doanh nghiệp nước ngoài đã chia sẻ thị phần khá lớn; do đó khi được quyền thiết lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì cánh cửa mở cho các doanh nghiệp Việt Nam sẽ còn hẹp hơn nữa. Hiện tại, APL, Mitsui OSK, Maersk Logistics, NYK Logistics... là những tập đoàn hùng mạnh với khả năng cạnh tranh lớn, bề dày kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ, hệ thống mạng lưới đại lý dày đặc, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới, mạng lưới thông tin rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao, đã và đang từng bước xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước. Về phạm vi hoạt động của các công ty logistics của Việt Nam Hiện nay, các công ty logistics Việt Nam mới chỉ hoạt động trong phạm vị nội địa hoặc một vài nước trong khu vực, trong khi phạm vi hoạt động của các công ty nước ngoài như APL Logistics là gần 100 quốc gia, Maersk Logistics là 60 quốc gia, Exel cũng vậy. Đây là một trong những cản trở các doanh nghiệp VN cung cấp các dịch vụ trọn gói cho khách hàng. Trong xu thế toàn cầu hoá, chủ hàng thường có xu hướng thuê ngoài từ rất nhiều quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Mặc dù có thể tính đến vai trò của các đại lý mà các công ty Việt Nam thiết lập ở các quốc gia khác, nhưng quan hệ này thường khá lỏng lẻo và không đồng nhất. Về tình trạng cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ Do phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam xuất khẩu hàng theo điều kiện FOB, FCA trong incoterms, nên quyền định đoạt về vận tải đều do người mua chỉ định và dĩ nhiên người mua sẽ chỉ định một công ty nước họ để thực hiện điều này. Do đó các công ty logistics của Việt Nam sẽ là người ngoài cuộc. Bất cập này không phải dễ dàng giải quyết vì phần lớn các nhà xuất khẩu của Việt Nam đều gia công hoặc xuất hàng cho những khách hàng lớn đã có những hợp đồng dài hạn với các công ty logistics toàn cầu. Đơn cử như hãng giày Nike, công ty có rất nhiều hợp đồng làm ăn với các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng riêng về khâu vận tải và logistics thì các doanh nghiệp Việt Nam không thể tham gia vào trong quá trình thương thảo. Đối với các nhà nhập khẩu của Việt Nam, do Việt Nam nhập siêu nên đây là thị trường hấp dẫn cho các công ty logistics của Việt Nam. Nếu như trước đây, các nhà nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu mua hàng theo điều kiện CIF, thì hiện nay các doanh nghiệp nhập khẩu của Việt Nam đang chuyển dần sang hình thức mua FOB, tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp logisitics Việt Nam khai thác. Tuy nhiên, một phần khá lớn trong thị trường này vẫn nằm trong tay các hãng logisitics nước ngoài do có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp tại Việt Nam mà họ cũng chính là người nhập khẩu hàng nhiều nhất. Hơn nữa, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa ý thức được việc đầu tư vào quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết không có phòng quản lý logistics hoặc chuỗi cung ứng mà phòng này thường được hiểu là phòng kinh doanh xuất nhập khẩu. Điều này tạo ra rào cản đối với các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong việc chào các dịch vụ logistics giá trị gia tăng. Về cơ sở hạ tầng vận tải Thực tế tiềm năng phát triển hàng hóa của Việt Nam rất lớn, với tỷ lệ tăng trưởng trung bình 20%/năm và có thể tăng lên 25%/năm trong thời gian ngắn năm 20011, lượng hàng qua cảng Việt Nam là 320,17 triệu tấn hàng hóa, tăng 18% so với năm 2010, theo Công ty Tư vấn Sprite. Tuy nhiên, Việt Nam được xếp hạng thấp nhất về cơ sở hạ tầng vận chuyển hàng hóa trong số các nền kinh tế trọng điểm ở khu vực Đông Nam Á. Phần lớn cảng biển tại Việt Nam không được thiết kế cho việc bốc dỡ hàng cho tàu chuyên dùng, nhiều cảng nằm ngoài thành phố Hồ Chí Minh chỉ được thiết kế cho hàng rời, không có trang thiết bị xếp dỡ container chuyên dụng. Các cảng không có dịch vụ hàng hải trực tiếp kết nối Việt Nam với các cảng biển tại châu Âu hay Mỹ. Mặt khác, các sân bay trong nước cũng thiếu các thiết bị phù hợp để bốc dỡ hàng hóa, thiếu sự đầu tư các kho bãi mới trong khu vực gần các sân bay, bến cảng. Hệ thống kho bãi hiện tại trên cả nước lại không phù hợp với hàng hóa bốc dỡ nhanh, trong đó có nhiều kho bãi đã được khai thác hơn 30 năm qua và không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Chưa kể đến tình trạng thiếu điện và dịch vụ hỗ trợ giao tiếp thông tin viễn thông. Ngay cả tại khu vực phía Nam, nơi kinh tế phát triển cao trong 10 năm qua, sự yếu kém trong công tác lập kế hoạch và thiếu đầu tư đã dẫn đến tình trạng ùn tắc hàng hóa đang gặp phải tại thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên nhân chủ yếu là do quy hoạch cảng không thống nhất, tại một số địa phương quy hoạch không hợp lý và không khoa học. Thế nhưng, trên thực tế có rất ít dự án hạ tầng được đầu tư trực tiếp bằng nguồn vốn cả vốn trong nước và vốn nước ngoài thành công. Khoảng cách lớn giữa các dự án hạ tầng được phê duyệt và và dự án đã thực hiện càng làm tăng thêm thách thức cho ngành logistics. Tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam chậm hơn rất nhiều so với nước láng giềng Trung Quốc. Lượng hàng tồn trữ cao và chuỗi cung ứng chậm chạp là nguyên nhân làm chậm quá trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Về chi phí dịch vụ Chi phí logistics của Việt Nam được dự đoán khoảng 25% GDP của Việt Nam, cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển như Mỹ và cao hơn các nước đang phát triển như Trung Quốc hay Thái Lan. Chính chi phí logistis cao này làm giảm hiệu quả những cố gắng của Việt Nam trong việc giới thiệu thị trường lao động giá rẻ và đẩy mạnh xuất khẩu. Nguyên nhân chính gây nên tình trạng này là cơ sở hạ tầng vận tải của Việt Nam đã quá cũ kỹ và quá tải, hệ thống quản lý hành chính phức tạp và các nhà sản xuất Việt Nam không tích cực sử dụng các dịch vụ thuê ngoài 3PL third party logistics của nước ngoài. Với khoảng 800 công ty đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics, nhu cầu của ngành dịch vụ này vẫn đang tăng. Nhưng dù vậy, ngành này chỉ mang lại 4,4% cho tổng GDP của Việt Nam, trong khi ở Thái Lan và Singapore, ngành này mang lại 15% tổng GDP. Bên cạnh đó, các công ty logistics của Việt nam chỉ phục vụ được khoảng 25% nhu cầu nội địa với sự chia sẻ thị trường từ các hãng nước ngoài bao gồm Maersk Logistics và APL Logistics. Việt Nam có dự án đầu tư 17,5 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần thay đổi tình trạng này. Nhưng cho đến khi đó, các công ty logistics địa phương đang cạnh tranh rất khốc liệt. Hãng Nike đang sử dụng Schenker Logistics để vận chuyển và đưa hàng tới Đông Nam Á, nhưng vài công ty 3PL của Việt Nam đang cố gắng trở thành đối tác có thể góp phần làm tăng giá trị khách hàng trong tương lai gần. Về hạ tầng thông tin Đây chính là điểm yếu các doanh nghiệp logisitics Việt Nam. Mặc dù các doanh nghiệp logistics đã có nhiều ý thức trong việc áp dụng công nghệ thông tin CNTT vào hoạt động kinh doanh của mình nhưng vẫn còn kém xa so với các công ty logistics nước ngoài. Nếu chỉ xét về khía cạnh xây dựng website, phần lớn website của doanh nghiệp Việt Nam chỉ đơn thuần giới thiệu về mình, về dịch vụ của mình, thiếu hẳn các tiện ích mà khách hàng cần như công cụ track and trace theo dõi đơn hàng, lịch tàu, e-booking, theo dõi chứng từ…Trong khi đó khả năng nhìn thấy và kiểm soát đơn hàng visibility là một yếu tố được các chủ hàng đánh giá rất cao khi họ lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics cho mình. Các công ty như APL Logistics, Maersk Logistics được Nike chọn là nhà cung cấp dịch vụ là do các công ty này có thể cung cấp cho Nike công cụ visibility trong bất kỳ thời điểm nào, tại bất kỳ nơi nào nhân viên của Nike cũng có thể nắm bắt và có thể kéo ra bất kỳ các loại báo cáo liên quan đến các đơn hàng của mình đã, đang và sẽ được thực hiện bởi các công ty trên. Điều này sẽ giúp Nike tính toán tốt những dự báo, kiểm soát hàng tồn, đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng ở chi phí tối ưu nhất. Về tính liên kết Cho tới nay, các doanh nghiệp logistics của Việt Nam hoạt động còn rất độc lập thiếu hẳn sự liên kết cần thiết. Trong xu hướng thuê ngoài outsourcing, mỗi doanh nghiệp cần tập trung vào thế mạnh của mình và sẽ thuê ngoài các dịch vụ không phải là thế mạnh. 80% các công ty kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam có tổng vốn pháp định ít hơn 1,5 tỷ đồng USD. Có thể thấy rằng việc kết hợp với các đối tác là rất quan trọng và việc liên kết trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Trong xu thế hiện nay, mô hình dịch vụ tổng thể, hay còn được gọi dưới cái tên One-stop Shop tạm dịch chỉ dừng một lần có thể mua được tất cả những gì mình cần, đang là một xu thế phổ biến. Tuy nhiên xu hướng này chưa được các doanh nghiệp Việt Nam tích cực triển khai,đặc biệt là việc tham gia cộng đồng thương mại quốc tế đa phương. Về nguồn nhân lực Logistics vẫn chưa được đào tạo chuyên sâu tại các trường đại học. Hiện nay chỉ duy nhất có trường Đại học Giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh là có ngành Logistics và Vận tải đa phương thức bắt đầu chiêu sinh được năm thứ 2. Còn lại sinh viên các trường Đại học Hàng hải, Ngoại thương, Giao thông vận tải chỉ học chừng 20 tiết có liên quan. Với 20 tiết như vậy cho toàn bộ một chuỗi kinh doanh tương đối phức tạp như logistics thì quả là khó khăn quá lớn cho thầy cô truyền đạt đầy đủ lượng kiến thức cho sinh viên. Số chuyên gia được đào tạo chuyên sâu vẫn còn quá thiếu so với nhu cầu. Hiện nay Việt Nam có khoảng nhân viên đang làm việc trong lĩnh vực logistics, tuy vậy những người có kinh nghiệm và hiểu biết về luật pháp quốc tế còn thiếu nhiều. Hiện nguồn nhân lực chính cho ngành này đều được lấy từ các đại lý hãng tàu, các công ty giao nhận vận tải biển và sử dụng theo khả năng hiện có. Trong khi đó, đây là lĩnh vực đòi hỏi chuyên gia không những am hiểu hệ thống pháp luật, thông lệ của nước sở tại, mà còn phải am hiểu pháp luật quốc tế và có mối quan hệ rộng khắp trên thế giới. Về quản lý Nhà nước Ở Việt Nam logistics chỉ mới được công nhận là hành vi thương mại trong Luật Thương mại sửa đổi năm 2006. Nghị định 140 CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với doanh nhân kinh doanh dịch vụ logistics chỉ mới được ban hành tháng 9/2007. Do quá mới, nên theo nhiều chuyên gia trong ngành thì các văn bản vẫn còn sơ sài chưa thể hiện hết hành lang pháp lý để logistics thật sự phát triển. Ngay cả việc thi hành luật cạnh tranh trong lĩnh vực này cũng không được chú trọng, bởi hiện có quá nhiều biểu hiện của việc kinh doanh không lành mạnh chưa được xử lý triệt để. Bên cạnh đó, các hiệp hội như Hiệp hội Cảng biển, Hiệp hội Đại lý và Môi giới hàng hải, Hiệp hội Các chủ tàu, Hiệp hội Giao nhận kho vận nhìn chung vẫn mang tính hình thức mà chưa phát huy được vai trò vốn có của mình là tạo cầu nối giữa các doanh nghiệp thành viên thành một thể thống nhất của hiệp hội. Đánh giá của quốc tế về thực trạng dịch vụ logistics của Việt Nam Theo kết quả khảo sát cuả Ngân hàng Thế giới, Việt Nam xếp hạng thứ 53 trong số 150 quốc gia được đưa vào bảng xếp hạng. Singapore đứng thứ nhất 1 trên toàn thế giới, sau đó là các quốc gia Tây Âu Đức, Hà Lan và các quốc gia phát triển khác như Úc, Nhật Bản, Thụy Sỹ, Canada, Đan Mạch. So sánh với các quốc gia Châu Á khác trong khu vực, Việt Nam thua xa Hàn Quốc 25, Malaysia 27, Trung Quốc 30, Thái Lan 31, Ấn Độ 39 nhưng vẫn hơn Phillipine 65, Cambodia 81 và Lào 117. So với một số nước Châu Âu, dịch vụ logistics của Việt Nam vẫn tốt hơn một số quốc gia thuộc khối Đông Âu như Bulgari 51, Nga 99, Ukraine 73 và hơn phần lớn các quốc gia Châu Phi khác. Ngoài ra, theo nhận xét của phát ngôn viên Ngân hàng Thế giới, ông Michael Peskin, chi phí logistics của Việt nam chiếm tới 30% đến 40% tổng chi phí vận chuyển trong khi ở các nước khác chi phí này chỉ chiếm khoảng 15%. Suy giảm nhu cầu tiêu dùng toàn cầu là mối lo ngắn hạn, tuy nhiên, không ảnh hưởng đến tăng trưởng logistics Việt trong dài hạn, theo ông Andy Ho. Thống kê mới của Hiệp hội Doanh nghiệp Logistics Việt Nam chỉ ra, dịch vụ logistics có quy mô 20-22 tỷ USD mỗi năm, chiếm 20,9% GDP cả nước. Với tốc độ phát triển hàng năm từ 16-20%, đây là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng đều nhất của Việt Nam trong thời gian qua. Để đón đầu các cơ hội phát triển, mới đây, tập đoàn VinaCapital và Moller Capital vừa “bắt tay” để mở rộng đầu tư lĩnh vực hạ tầng vận tải và logistics tại Việt Nam. Trả lời VnExpress, ông Andy Ho – Tổng Giám đốc Hội đồng đầu tư VinaCapital, chia sẻ những quyết định đằng sau thương vụ này, đồng thời, nhận định tiềm năng phát triển của thị trường logistics Việt. Ông Andy Ho – Tổng Giám đốc Hội đồng đầu tư VinaCapital. Ảnh NVCC – Lý do nào khiến VinaCapital và Moller Capital quyết định “bắt tay” để đầu tư lĩnh vực hạ tầng vận tải và logistics tại Việt Nam? – Logistics đóng vai quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Do đó, các cơ hội để đầu tư, phát triển và hợp nhất doanh nghiệp trong lĩnh vực vận tải và logistics là rất lớn. Moller Capital, một thành viên của Moller Group, là đơn vị quản lý quỹ có nguồn vốn dồi dào và kinh nghiệm quản lý, đầu tư ở các thị trường phát triển và thị trường mới nổi. Sự kết hợp của Moller cùng với mạng lưới rộng khắp và kinh nghiệm quản lý vốn của VinaCapital tại Việt Nam sẽ tạo ra nền tảng đầu tư đầy tiềm năng nhằm thay đổi ngành logistics ở Việt Nam. Về cách thức hợp tác, chúng tôi sẽ tìm kiếm các thương vụ để cùng đầu tư và hỗ trợ các doanh nghiệp được đầu tư phát triển. Điều này được thực hiện bằng cách tận dụng mạng lưới vận hành rộng khắp kết hợp với kinh nghiệm chuyên môn và am hiểu thị trường nội địa của mỗi bên. – Để tối ưu hiệu quả, đâu là chiến lược đầu tư của VinaCapital và Moller Capital? – Chiến lược đầu tư của của VinaCapital và Moller Capital được thực hiện thông qua việc góp vốn vào các doanh nghiệp chúng tôi đầu tư. Điều này hướng đến thực hiện hai mục đích gồm mang lại lợi nhuận cho các nhà đầu tư và giúp phát triển các doanh nghiệp bằng kinh nghiệm vận hành cùng nguồn vốn. Quỹ tìm kiếm cơ hội đầu tư mà ở đó giá trị có thể được tạo ra thông qua tăng trưởng thị phần, quản trị hiệu quả và cải thiện hiệu suất hoạt động. Về tiêu chí đầu tư, bên cạnh việc chú trọng vào các doanh nghiệp có tài sản và tiềm năng tăng trưởng cao, chúng tôi cũng tìm kiếm những doanh nghiệp có đội ngũ quản trị có tâm và tầm, các mô hình kinh doanh có thể mở rộng… Qua đó, VinaCapital và Moller Capital có thể tích hợp công nghệ và các phương pháp tốt nhất về vận hành, quản trị và phát triển bền vững. – So với các nước trong khu vực, Việt Nam có lợi thế gì để phát triển mảng hạ tầng và vận tải biển, thưa ông? – Trong vài năm gần đây, một số hoạt động đầu tư đã được thực hiện để phát triển hạ tầng ngành vận tải biển, song vẫn còn nhiều cơ hội để phát triển và tăng trưởng. Do đó, chúng tôi đang hướng đến những cơ hội tiềm năng to lớn trong lĩnh vực cảng biển, kho bãi và vận tải. Về cơ hội từ thị trường, Việt Nam cũng có nhiều lợi thế đặc thù trong việc phát triển ngành logistics như đường bờ biển trải dài liên tục, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng trưởng ổn định, nền tảng cơ sở sản xuất vững chắc và nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng tăng do thu nhập tăng, sự phát triển của tầng lớp trung lưu và tốc độ đô thị hóa cao. Ngoài ra, đầu tư công vào cơ sở hạ tầng là rất quan trọng trong việc thúc đẩy sức hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến cho FDI trong dài hạn. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Chính phủ đã tăng 50% so với cùng kỳ trong năm 2023, lên khoảng 30 tỷ USD. Theo đó, việc cải thiện cơ sở hạ tầng cũng làm tăng sức hấp dẫn của ngành logistics về hiệu quả và lợi nhuận. Đối với bất kỳ nền kinh tế đang phát triển nào, cơ sở hạ tầng luôn đóng vai trò rất quan trọng trong lộ trình phát triển. Đầu tư cho cơ sở hạ tầng cho đến nay mới chỉ đạt 15% trong tổng ngân sách được phân bổ cho năm nay, tương đương 3,0% GDP, vì thế việc tăng tốc đầu tư công sẽ diễn ra vào nửa cuối năm 2023. – Ở chiều ngược lại, ông đánh giá như thế nào về thách thức trong việc phát triển lĩnh vực hạ tầng vận tải và logistics tại Việt Nam? – Thực tế, logistics tại Việt Nam là một ngành còn phân tán, rời rạc và hoạt động kém hiệu quả. Điều này kết hợp với cơ sở hạ tầng hạn chế có thể làm tăng chi phí đáng kể trong việc vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên, chúng tôi xem những thử thách này là cơ hội và luôn muốn tập trung vào. – Các thách thức này tạo động lực như thế nào trong kế hoạch đầu tư dài hạn của VinaCapital và Moller Capital? – Như đã đề cập ở trên, bản chất quy mô nhỏ và rời rạc của ngành logistics và vận tải mang đến cơ hội cho sự hợp tác của Moller Capital và VinaCapital. Thách thức của những nhà đầu tư như chúng tôi là tìm ra các mục tiêu khả thi để đầu tư về quy mô hoặc khả năng sinh lời. Ngoài ra, điều quan trọng, chúng tôi cần xác định các cơ hội có thể tận dụng kinh nghiệm về mặt chuyên môn, tài chính, quản trị mà Moller Capital và VinaCapital để tối ưu đầu tư. Hơn nữa, việc cho phép nâng cao tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong một số doanh nghiệp vận tải và logistics sẽ tăng thêm sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư và giúp tạo ra những doanh nghiệp Việt Nam phát triển vững mạnh, từ đó có thể cạnh tranh và thành công trên thị trường khu vực và toàn cầu. – Ông dự báo như thế nào để tương lai của logistics và vận tải trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng toàn cầu giảm? – Chúng tôi nhận thấy sự suy giảm nhu cầu tiêu dùng trên toàn cầu là mối lo ngại ngắn hạn và phản ánh những điểm yếu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại. Tuy nhiên, trở ngại này không tác động tiêu cực đến triển vọng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam. Do đó, ngành logistics và vận tải vẫn sẽ phát triển mạnh mẽ. Các báo cáo cho thấy hiện tượng thanh lý hàng tồn kho đang diễn ra ở các thị trường phát triển. Điều này sẽ kết thúc vào cuối năm nay giúp Việt Nam ở vị trí thuận lợi để tận dụng sự phục hồi hoặc bình thường hóa khối lượng hàng hóa thương mại. Vì vậy, chúng tôi cho rằng đây là thời điểm quan trọng để đầu tư vào lĩnh vực vận tải và logistics. Ngoài ra, có những tín hiệu cho thấy Chính phủ sẵn sàng đưa ra các biện pháp hỗ trợ cho ngành, ví dụ như đề xuất tăng phí xử lý cho các nhà khai thác cảng, dự kiến sẽ được áp dụng vào năm 2024 sẽ trở thành một động lực tích cực đối với lợi nhuận của ngành. Hồng Thảo 3MỤC LỤCĐề tài này được chia làm 5 phần lớnI. Logistics Là Gì? Cỏc Khỏi Nim Logistics Bớc Cơ Bản Của Quy Tr×nh LogisticsII Giới Thiệu Các Tập Đoàn Logistics Thế Giới TNT LogisticsDHL FedexUPS Mearks LogisticsSchenker Logistics Các Hãng Tàu Lớn Trên Thế Cơ Sở Hạ Tầng Ở Việt Cảng Biển Việt Các Cảng Hàng KhôngIV. Và Giải Pháp Cho Ngành Logistics Việt Những Thách Thức Với Ngành Logistics Việt Nam. Lược Nào Cho Ngành Logistics Việt Nam LuậnPhụ l ục T ài liệu tham kh ả o4I. Logistics Là Gì? Các Khái Niệm Về LogisticsLogistics là một trong những số ít thuật ngữ khó dịch nhất, giống như từ “Marketing” , từ Tiếng Anh sang Tiếng Việt và thậm chí cả những ngơnngữ khác. Bởi vì bao hàm nghĩa của từ này quá rộng nên không một từ đơn ngữ nào có thể truyền tải được hết ý nghĩa của nó. Nhưng rất nhiều cơng tygiao nhận vận tải lại được đăng ký là ví dụ như AB Logistics như vậy vơ tình cơng ty này có thể được hiểu là nhà cung cấp dịch vụ logistics, màkhơng biết logistics là gì? Một số định nghĩa Logistics là hậu cần, số khác lại định nghĩa là nhà cungứng các dịch vụ kho bãi và giao nhận hàng hoá vv …và chúng ta thấy rằng đây giống như là một cái áo thời trang mà công ty giao nhận vận tải hànghóa nào cũng muốn có để tăng thêm sức mạnh cho mình. Vậy Logistics Là Gì?Có rất nhiều khái niệm về thuật ngữ này Logistics được hiểu là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểmsốt sự lưu thơng và tích trữ một cách hiệu qủa tối ưu các loại hàng hoá, nguyên vật liệu, thành phẩm và bán thành phẩm, dịch vụ và thông tin đikèm từ điểm khởi đầu tới điểm kết thúc nhằm mụch đích tuân theo các yêu cầu của khách có thể được định nghĩa là việc quản lý giòng chu chuyển và lưu kho nguyên vật liệu, quá trình sản xuất, thành phẩm và xửlý các thông tin liên quan.....từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ cuối cùng theo yêu cầu của khách hàng. Hiểu một cách rộng hơn nó còn bao gồm cả việcthu hồi và xử lý rác thải Nguồn UNESCAP.......................... Logistics là quá trình xây dựng kế hoạch, cung cấp và quản lýviệc chu chuyển và lưu kho có hiệu quả hàng hố, dịch vụ và các thông tin5liên quan từ nơi xuất xứ đến nơi tiêu thụ vì mục tiêu đáp ứng nhu cầu của khách hàng World Marintime Unviersity‐ Đại học Hàng Hải Thế Giới, 1998. Thực ra Logistics được áp dụng rất rộng rãi trong nhiều ngànhkhông chỉ trong Quân sự từ rất lâu, được hiểu là hậu cần, mà nó còn áp dụng trong sản xuất tiêu thụ, giao thơng vận tải vv..Vì vậy trên cơ sở Logistics tổng thể Global Logistic người ta chia hoạt động logistics thành Supply Chain Managment Logistics –Logistics quảnlý chuỗi cung ứng. Transportation Management Logistics‐ Logistics quản lý vận chuyển hàng hóa. Warhousing Inventery Management Logistics –Logistics về quản lý lưu kho, kiểm kê hàng hoá, kho bãi. Như vậy quản lý Logistics là sự điều chỉnh cả một tập hợp các hopạt độngcủa nhiều ngành cùng một lúc và chỉ khi nào người làm giao nhận có khả năng làm tất cả các công việc liên quan đến cung ứng, vận chuyển, theo dõisản xuất, kho bãi, thủ tục hải quan, phân phối….mới được công nhận là nhà cung cấp dịch vụ logistics. Xét về điều kiện này thì hầu như chưa cócơng ty Việt Nam nào có thể làm được, chỉ một số rất it các cơng ty nước ngồi và cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay như DHL Danzas, TNTLogistics…… Vì lĩnh vực Logistics rất đa dạng, bao gồm nhiều quy trình và cơng đoạnkhác nhau nên hiện nay người ta chia thành 4 phương thức khai thác hoạt động Logistic như sau™Logistics tự cung cấp Các công ty tư thực hiện các hoạt động logistics của mình. Cơng ty sở hữucác phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics. Đây là những6tập đoàn Logistics lớn trên thế giới với mạng lưới logistics tồn cầu, có phương cách hoạt động phù hợp với từng địa phương.™Second Party Logistics 2PL Là việc quản lý các hoạt động logistics truyền thống như vận tải hay khovận. Công ty không sở hữu hoặc có đủ phương tiện và cơ sở hạ tầng thì có thể th ngồi các dịch vụ cung cấp logistics nhằm cung cấp phương tiệnthiết bị hay dịch vụ cơ bản. Lý do của phương thức này là để cắt giảm chi phí hoặc vốn đầu tư.™Third Party Logistics TPL hay logistics theo hợp đồng. Phương thức này có nghĩa là sử dụng các cơng ty bên ngồi để thực hiệncác hoạt động Logistics, cã thÓ lμ toμn bộ quá trình quản lý Logistics hoặc chỉ mộtsố hoạt động có chọn lọc. Cách giải thích khác của TPL l các hoạt động do một công ty cung cấp dịch vụ Logistics thực hiện trên danh nghĩa khách hμng cu¶ hä, tèithiĨu bao gåm viƯc qu¶n lý vμ thực hiện hoạt động vận tải v kho vận ít nhẩt 1 năm có hoặc không có hợp đồng hợp tác. Đây đợc coi nh một liên minh chặt chẽ giứamột công ty v nh cung cấp dịch vụ Logistics, nó không chỉ nhằm thực hiện các hoạt động Logistics m còn chia sẻ thông tin, rủi ro v các lợi ích theo một hợp đồng dihạn. Fourth Party Logistics FPL hay Logistics chuỗi phân phối. FPL l một kháI niệm phát triển trên nền tảng của TPL nhằm tạo ra sự đáp ứng dịchvụ, hớng về khách hng v linh hoạt hơn. FPL quản lý v thực hiện các hoạt động Logistics phức hợp nh quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát v các chứcnăng kiến trúc v tích hợp các hoạt động Logistics. FPL bao gồm lĩnh vực rộng hơn gồm cả các hoạt động của TPL , các dịch vụ công nghệ thông tin, v quản lý các tiếntrình kinh doanh. FPL đợc xem l một điểm liên lạc duy nhất , nơi thực hiện việc quản lý, tổng hợp các nguồn lực v giám sát các chức năng TPL trong suốt chuỗi phânphối nhằm vơn tới thị trờng ton cầu, lợi thế chiến lợc v các mối quan hệ lâu bền. Trong một số nghiên cứu ngời ta lại phân loại các công ty cung cấp dịch vụLogistics theo các nhóm nh sau. Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Vận Tải - Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phơng Công ty cung cấp dịch vụ vận tải đờng bộ, đờng sắt, hng không, đờng Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phơng thức - Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng- Các công ty môi giới vận tải Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Phân Phối -Công ty cung cấp dịch vụ kho bãi-Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Hng Hoá - Các công ty môi giới khai thuê hải quan- Các công ty giao nhận, gom hng lẻ - Các công ty chuyên ngnh hng nguy hiểm- Các công ty dịch vụ đóng gói vận chuyển Các Công Ty Cung Cấp Dịch Vụ Logistics Chuyên Ngnh - Các công ty công nghệ thông tin- Các công ty viễn thông - Các công ty cung cấp giải pháp ti chính, bảo hiểm- Các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục v đo tạo Các công ty ny lại có thể đợc chia thnh 2 loại Các công ty cung cấp dịchvụ Logistics có v không có ti sản. Các công ty sở hữu ti sản thực sự có riêng đội vận tải , nh kho vv v sử dụng chúngđể quản lý tất cả hay một phần các hoạt động Logistics cho khách hng của mình. Các công ty Logistics không sở hữu ti sản thì hoạt động nh một ngời hợp nhất cácdịch vụ Logistics v phần lớn các dịch vụ l đi thuê ngoi. Họ có thể phải đi thuê phơng tiện vận tải, nh kho, bến bãi ..Việc thuê ngoi đã nhanh chóng phát triểntrong vi năm gần đây. Ngy nay có rất nhiều loại hình dịch vụ Logistics nhằm đáp ứng yêu cầu đa dạng kh¸c nhau cđa c¸c ngμnh hμng kh¸c nhau. Kh¸c víi trớc đây,không chỉ các dịch vụ Logistics cơ bản nh vận tải v kho vận m các loại dịch vụ phức tạp v đa dạng khác cũng đã xuất hiện. Việc thuê ngoi các dịch vụ Logisticsgọi theo thuật ngữ chuyên ngnh l Bớc Cơ Bản Của Quy Trình LogisticsBớc thực hiện Khách hngChủ hng Công ty LogisticsHãng tuKiểm tra số PO v quyết địnhKiểm tra số PO trong hệ thống hoặc xin ý kiếnkhách hngNhập chi tiết booking vo hệ thốngXác nhận booking với chủ tulịch tuthời giancut-offBook container víi hng tμuDì hμng, kiĨm tra, barcode scanningKiĨm ho¸ Đóng hng lẻ vo Container Hạ bãiCập nhật thông tin trong hệ thốngGửi bản copy FCR cho chủ hng Xác nhËn chÝnhx¸c BL, SWBNhËn BL, SWB gèc, in FCR gècGưi Shipping Advice cho khách hngKiểm tra chứng từ Phân loại chứng từ v gửicho khách hng Gửi Booking cho công tyLogistics Xác nhận Booking từcông ty Logistics, chuẩn bị giao hngGiao hng tại kho cùng với chứng từ cần thiếtChất hng lên xe tảiNhận copy FCR v kỉểm tra nội dungNhận Shipping Advice Nộp chứng từ theo yêu cầuNhận FCR gốcNhận chứng từ v khai báo hải quanCung cấp Booking container cho công tyLogisticsHạ bãi Tu chạyLm BL, SWB, gửi copy cho công tyLogisticsGiữa ngời mua hng v công ty Logistics sau khi đạt đợc thoả thuận về dịch vụ đợc cung cấp, bên cung cấp dịch vụ sẽ xây sựng lên quy trình Logistics trong đố thểhiện rõ mọi yêu cầu về dịch vụ của ngời mua hng m theo đó công ty Logistics có89bổn phận phải thực hiện óng. Quytrình này thường có tên là quy trình Logistics hiện hành hay quy trình khai thác tiêu chuẩn StandardOperating Procedure. Quy trình Logistics bao gồm các bước sau™Booking Theo hợp đồng thương mại ký kết với khách hàng về một đơn hàng cụ thể, chủ hàng sẽ gửi chi tiết số đơn hàng PurchasingOder theo mẫu booking quy định cho công ty Logistics bao gồm số PO, số loại hàng, số chiếc, số khối……….Những chi tiết yêu cầu này thay đổi tuỳtheo khách hàng, được quy định trong quy trình Logistics. Ngồi ra trong mẫu booking cần có những thông tin quan trọng khác như tên người gửihàng, người nhận hàng, số LC…Sau khi nhận được booking từ chủ hàng, người phụ trách khách hàng của công ty Logistics sẽ kiểm tra những chitiết này trên hệ thống dữ liệu mà đã được khách hàng cập nhật. Ngồi ra quy trình cũng quy định thời gian chủ hàgn gửi booking cho công tyLogistics, chủ hàng không thể tuỳ tiện gửi booking theo tình hình hàng hóa.™Giao hàng Hàng sau khi được Booking sẽ được xuất theo hai dạng là hàng lẻ hoặc container. Đối với hàng lẻ, chủ hàng phải giao hàngtrước thời gian cut‐off time của công ty Logistics. Tại kho, mã số hàng hoá phải được quét mã vạch, việc quét mã vạch này được công ty Logistics thựchiện khi nhận hàng và đóng hàng vào container. Dữ liệu trên sẽ được cập nhật trên hệ thống của cơng ty Logistics. Một số trường hợp hàng hóa phảicó thư cam kết Letter of Guarantee từ phía chủ hàng. Vd Hàng nguy hiểm, hàng chất lỏng…Việc thực hiện thủ tục hải quan hàng xuất tại kho sẽdo chủ hàng thực hiện nhưng chủ yếu vẫn là các công ty Logistics làm thay cho chủ hàng, như vậy sẽ thuận tiện và nhanh chóng hơn. Khi nhận đủhàng từ chủ hàng, công ty Logistics sẽ đóng hàng vào container theo kế hoạch đóng hàng và hạ từ Sau khi giao hàng vào kho của công ty Logistics hoặc hạ bãi container chủ hàng sẽ cung cấp chi tiết lô hàng cho công tyLogistics để làm vận đơn đường biển Bill of Lading‐BL, Seaway Bill‐ SWB hay House Bill chứng nhận nhận hàng Forwarder’s Cargo Receipt‐FCR. Dựa trên chi tiết cung cấp kết hợp với chi tiết thực nhận trong kho, nhân viên chứng từ công ty Logistics sẽ cập nhật vào hệ thống và in rachứng từ đã nêu cho chủ hàng. Hầu hết các công ty Logisticsđảm nhận luôn công việc phân loại, kiểm tra và gửi toàn bộ chứng từ của lô hàng chokhách hàng. Như vậy khi chủ hàng lấy BL, SWB hay FCR gốc, chủ hàng cần phải nộp chứng từ gốc cần thiết cho công ty Logistics như commercialinvoice, packing list, certificate of origin… Sau khi hoàn thành việc cập nhật chi tiết lô hàng vào hệ thống, công tyLogistics sẽ gửi thông báo hàng xuất cho khách hàng Shipping Advice bao gồm những thông tin cơ bản về lô hàng PO, số container, ngày tàuchạy….. Đa số những công ty cung cấp dịch vụ Logistics tại Việt nam đều hoạtđộng theo nội dung của quy trình Logistics đã nêu trên. Quy trình này bao hàm những dịch vụ được cung cấp như quản lý đơn hàng, gom hàng, quảnlý chứng từ, dịch vụ tại kho…..Nhưng thực ra đây mới chỉ là những khâu cơ bản nhất trong chuỗi Logistics mà các công ty Việt nam đã và đang Gii Thiu Cỏc Tp on Logistics Th GiiĐây l những tập đon kinh tế không lồ, có tốc độ phát triển nhanh, đang hoạt động trong nhiều ngnh vận tải khác nhau v có mặt ở khắp nơi trên thế giới. Nhữngtập đon ny thống trị v chi phối ton bộ lĩnh vực chuyển phát nhanh ton cầu bao gồm TNT, DHL, Fedex, vận tải đờng biển thì cã Maerks Logistics, Schenker Logistics, APL Logistics, KuehneNagel, MOL Logistics, SDV Logistics, Yusen Global Logistics,Thomas Nation Wide Transport TNT đợc thnh lập tại Australia năm 1946 với dịch vụ ban đầu chỉ l phát chuyển nhanh bu kiện v th tÝn. TNT hiƯn naylμ sù hỵp nhÊt cđa TNT EXPRESS WORLDWIDE vμ TNT LOGISTICS vμ ROYAL TPG POST, mét hng bu điện củaH Lan đang hoạt động tại châu Âu v ton cầu. TNT hiện đang sử dụng hơn ngời trên 200 nớc ton thế EXPRESS WORLDWIDE đợc đánh giá l mạng lới phát chuyển nhanh bằng đờng bộ v đờng hng khônglớn nhất châu Âu. Trong khi đó TNT Logistics l công ty cung cấp dịch vụ Logistics lín thø hai trªn thÕ vào Việt nam năm 1995 bằng việc liên doanh với công ty Viettrans thuộc Bộ Thương Mại và ởViệt nam nó có tên là TNT‐Viettrans Express Worldwide Co liveto deliverFederal Express khai trơng dịch vụ vận chuyên nhanh vo năm 1973 tại Mỹ v bắt đầu phát triển sang khu vực châu á -Thái Bình Dơng vo đầu những năm 1989, Fedex đợc phép thực hiện các chuyến bay đến 21 quốc gia châu á thông qua việc mua lại Flying Tiger, một hãng hng không chuyên vận chuyển hng nay Fedex có đội ngũ nhân viên khoảng ngời v cung cấp dịch vụ tại 378 sân bay trên ton thế giới. Fedex đợc xem l hãng vận chuyển tốc hnh lớn nhấtthế giới, mỗi ngy vận chuyển hơn triệu món hng đến 220 hiện có điểm giao hng, có 671 máy bay vận tải v 41000 xe vận tải các loại hoạt động trên mạng nới ton Parcel Service c thnh lp ở Mỹ năm 1907 với hoạt động chính là truyền tin. Ngày nay UPS đã trở thành một tập đoàn với trịgiá tài sản 36 tỷ USD. UPS hiện đang sử dụng 317000 người tại Mỹ và 40000 nhân công tại nước ngồi. UPS được đánhgiá là cơng ty phát chuyển bưu kiện lớn nhất thế giới, đồng thời là nhà cung cấp hàng đầu về dịch vụ Logisticstoàn cầu. UPS hiện là một thương hiệu rất nổi tiếng trên thế ngày UPS quản lý dòng lưu chuyển hàng hóa, tiền vốn và thơng tin đến hơn 200 nước v vựng lónh th trờnth thnh lập vo năm 1969 tại Sanransisco với dịch vụ vận chuyển ti liệu, giấytờ hng hoá của tu biển bằng đờng hng không. §iỊu nμy cho php hä thùc hiƯn c¸c thđ tơc hải quan trớc khi tu cập cảng, qua đó giảm đợc thời gian chờ đợi trongcảng. DHL đợc coi l công ty sáng lập dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế bằng đờng hng không. Bắt đầu từ 1979, DHL không chỉ vận chuyển ti liệu m còn bắtđầu vận chuyển bu kiện. Đến 1988, DHL đã có mặt ở 170 n−íc trªn thÕ giíi. Ngμy nay DHL cã tỉng số nhân viên trên khắp thế giới l ngời, cung cấp các dịchvụ vận chuyển v phát chuyển nhanh thông qua các phơng thức đờng bộ, đờng sắt, đờng hng không, đờng biển cũng nh dịch vụ kho bãi, giao nhận v các giải phápLogistics khác. Năm 2002, DHL thc qun së h÷u 100 cđa Deustche Post World Net, hãng buđiện lớn nhất châu 2003, tất cả công ty con cđa Deustche Post trong lÜnh vùc ph¸t chun nhanh vμ Logistics nh− Deutsche Post Euro Express vμ Danza đợc sáp nhập dới một thơnghiệu chung l DHL13Maersk Headquater in DenmarkCông ty Moller‐Maersk được thành lập hơn 100 năm về trước vào 1904 tại Đan Mạch. Người sáng lập là thuyền trưởng Moller và con trai ơngMỉrsk Mc‐K nney Møller i. Nguyên thuỷ công ty chỉ khai thác vận tải biển, nhưng hiện nay lĩnh vực kinh doanh bao gồm khai thác dầu khí, cung cấptàu biển, dịch vụ Logistics đa dạng, hệ thống siêu thị Dans Supermarket, khai thác cầu cảng và có cả một hãng hàng không là Maersk Air, cung cấpdịc vụ hàng không tại thị trường châu Âu. Ba doanh nghiệp chính kinh doanh dịch vụ container là Maersk Sealand,Maersk Logistics và APM Terminal. Tập đồn Maersk hiện có trên 60000 nhân viên tồn cầu và có văn phòng tạihơn 125 quốc gia trên thế giới. Maersk có mặt tại Việt nam năm 1991 với việc mở văn phòng đại diện của Maersk Line, sau đó đổi tên thành MaerskSealand khi Maersk mua hãng Sealand năm 1999 Năm 1995 Maersk Logistics mở văn phòng đại diện tại thành phố Hồ ChíMinh nhằm đa dạng hố dịch vụ tại Việt nam bao gồm Lưu giữ hàng hoá, hoàn tất chứng từ, khai thác vận tải đường bộ và đường không. Tại ViệtNam, Moller Maersk có hơn 130 nhân viên tại thành phố Hồ Chí Minh, 20 nhân viên tại Hà nội và các văn phòng đại lý tại Hải Phũng, nng,Quy Nhn, Nha thnh lập bởi Gottfried Schenker cách nay hơn 130 năm. Lúc đầu Schenker Logistics l công ty chuyên về vận tải đờng bộ v đờng sắt trên ton châu Âu vớihơn 30 nớc. Ngy nay Schenker Logistics cung cấp các giảI pháp tích hợp đối với cả vận tảIđờng biển v đờng hng không ở quy mô ton cầu. Các trung tâm tích hợp Schenker Logistics trên thế giới tạo điều kiện vận chuyển hng hoá một cách hiệu quảton cầu v kết nối các nh vận chuyển tạo ra một loạt các dịch vụ trị giá gia tăng. Các dịch vụ chuyên nghiệp của Schenker cung cấp các giảI pháp ton diện luôn đápứng đợc nhu cầu của khách hng một cách đáng tin cậy. Schenker có gn 35000 nhân viên trên ton cầu v 1100 văn phòng trên ton thế giới với doanh thu 8 tỷ Euromỗi năm . Năm 1990 Schenker mở văn phòng đại diện tại Việt nam v l một trong những côngty hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải v Logistics sơm nhất. Ngy nay Schenker đã phát triển rất nhanh v l một trong những công ty Logistics hng đầu tạithnh phố Hồ Chí Minh. Schenker đã liên doanh với Gemadept v cung cấp cấp các loại dịch vụ vận tải hng không cũng nh đờng Hóng Tu Lớn Trên Thế Giới. Dưới đây là bảng số liệu tham khảo về 10 hãng tàu container lớn nhất thếgiới. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt nam, các hãng tàu này sớm muộn cũng đã có mặt và đóng góp thêm vào sự phát triển của nền kinhtế đất nước. Tuy nhiên chính sự xuất hiện của các hãng tàu này đã làm cho thị trường Logistics Việt nam cạnh tranh khốc liệt hơn và kẻ được lợi baogiờ cũng là những kẻ mạnh. Các hãng tàu này đã dành được những phần béo bở từ miếng bánh Logistics Việt nam, chỉ để lại cho các hãng tàu trongnước một phần nhỏ. Nói một cách khách quan và cơng bằng thì các hãng tàu Việt Nam không đủ lực để cạnh tranh với các đại gia trên thế Hãng Khai Thác Tàu Container Lớn Nhất Thế liệu tính đển hết năm 2005‐Visaba Times số 7980Xếp HạngTên Hãng Tàu Đội Tàu Đang Khai ThácChiếc TEU Đội Tàu Đang Đặt Đóng MớiChiếc TEU 1Maersk Line 2MSC 3CMADelmas 4Evergreen 5Hapag‐Loyd 6APL 7China Shipping 116 Hanjin82 Coscon123 NYK116 LượngChiếc Đội Tàu thuộc Tổng công ty Hàng Hải Việt nam‐ Công ty Vận tả B ển V ệt Nami i iVOSCO 25‐ Công ty Vận tải và thuê tàu biển Việt Nam VITRANSCHART14 ‐ Công ty Vận tả b ểni i III VINASHIP15 ‐ Công ty Vận tả B ển Bắci i NOSCO4 ‐ Công ty Vận tả b ển V NAL NESi i II 16‐ Cơng ty Vận tả Dầu khí V ệt Nam ii FALCON8 ‐ Công ty Hàng hả Đông Đôi VISERITRANS12 ‐ Công ty Cổ phần Vận tả b ển Hả Âui i iSESCO 3‐ Inlaco HP 4‐ Inlaco SG 3Tổng số 104 Tàu ngày 287200617Các “Đại Gia” hàng đầu thế giới trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ LogisticsNguồn Viện nghiên cứu Logistics toàn cầu –Global Logistics IstituteXếp Hạng Tên Công Ty Quốc GiaLĩnh Vực Hoạt Động Tổng Doanh ThuTriệu USD1 USPS MỹMail, Express DHL ĐứcMail, Express, Logistics 3 UPSMỹ Express, 4 FedExMỹ Express Maersk Đan MạchShipping, Logistics La PostPháp Mail, 7 CoscoTrung Quốc Shipping 8 JapanPost Nhật BảnMail 9TNT Hà LanMail, Express,Logistics 10Royal Mail AnhMail, Express Nippon Express Nhật BảnFreight Forwarding, 12 SchenkerĐức Rail freight, 13 NYKLine Nhật BảnShipping, Logistics Union PacificCorp Mỹ Rail freight, 15Mitsui OSK Line Nhật BảnShipping 16 BurlingtonNorthern SantaMỹ Rail freight, 17 PosteItaliane Italia 18 ExelAnh Freight Forwarding,Logistics Yamato Transport Nhật BảnLogistics Kuehne NagelThuỵ Sỹ Freight Forwarding, 21Norfolk Sourthern Corp MỹRail freight, Logistics CSX CorpMỹ Rail freight, 23 SNCFPháp Rail freight,Logistics Panalpina Thuỵ SỹFreight Forwarding, 25 ChinaPost Trung Quốc Mail US FreightwaysMỹ Trucking Yellow IncRoadway Mỹ Trucking Canada PostCanada 29Canadian National Railway Canada Rail freight, 30 APLSingapore ShippingLogistics Cơ Sở Hạ Tầng Ở Việt Nam Khái niệm Logistics lần đầu xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 1990. Sau nhiều năm phát triển, thực trạng ngành logistics ở Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Mặc dù còn nhiều tồn đọng nhưng đã dần đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần không nhỏ trong phát triển Kinh tế – Xã hội nói chung. Trong bài chia sẻ này, Ratraco Solutions sẽ trình bày chi tiết hơn về thực trạng logistics ở Việt Nam hiện nay, tiềm năng phát triển ngành logistics, sự thuận lợi của hoạt động logistics, các hình thức Logistics phổ biến,…và những kiến thức liên quan khác để quý khách có cơ hội tiếp cận gần hơn với Dịch vụ hậu cần Logistics trong thời đại số. Ngành Logistics tại Việt Nam có tiềm năng phát triển không? Trong vài năm trở lại đây, logistics là ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể của nền kinh tế. Hoạt động của chuỗi logistics xuyên suốt mọi khâu trong quá trình sản xuất. Từ giai đoạn sản xuất hàng hóa đến khi hàng được giao đến người nhận đều có sự xuất hiện của ngành Logistics. Logistics không chỉ là một ngành riêng biệt, mà nó liên quan trực tiếp đến nhiều ngành khác nhau như Giao thông vận tải, cho thuê kho bãi, dịch vụ xuất – nhập khẩu, dịch vụ hải quan, thuế, bảo hiểm, bán lẻ… Hiện tại, Việt Nam được đánh giá là thị trường tiềm năng cho sự phát triển của ngành logistics. Trong những năm gần đây, Việt Nam tập trung đầu tư vào hệ thống cơ sở hạ tầng đường bộ, đường hàng không, đường sắt, đường biển, cùng hệ thống kho bãi, trung tâm thương mại…liên tục được mở rộng. Kèm theo đó là sự phát triển của dịch vụ đi kèm, thủ tục xuất nhập khẩu được đơn giản hóa để cải thiện chất lượng dịch vụ. Về phía nhà nước đang tích cực triển khai các chính sách mở cửa để khuyến khích đầu tư từ nước ngoài. Đây vừa là cơ hội để mở rộng hợp tác để phát triển ngành logistics, nhưng cũng là thách thức không hề nhỏ với doanh nghiệp trong nước. Theo thống kê của Vietnam Report, trong hơn doanh nghiệp logistics và vận tải trên cả nước thì 10% là của nước ngoài và có đến 88% là doanh nghiệp nội địa. Tuy nhiên, doanh thu của doanh nghiệp nước ngoài chiếm 70 – 80%, điều này cho thấy hoạt động của các Công ty logistics còn thấp. Việt Nam với tiềm năng phát triển ngành Logistics theo nhiều phương thức khác nhau nên từng bước được đầu tư mạnh mẽ, mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Dân số Việt Nam khoảng 96 triệu người, trong đó số người sử dụng mạng internet chiếm khoảng 70%. Song song với đó là bán hàng online và các trang thương mại điện tử ra đời đã thúc đẩy nhu cầu mua hàng và sử dụng Dịch vụ vận chuyển. Bên cạnh đó, Việt Nam có dân số trẻ tạo ra nguồn nhân lực dồi dào cho ngành Logistics, tuy nhiên trình độ và năng lực lại không thể đáp ứng được yêu cầu ở những vị trí quản lý. Khoa học công nghệ phát triển nên Big Data, AI,…được áp dụng trực tiếp vào ngành Logistics. Đồng thời, sự tích hợp trí tuệ nhân tạo, mạng lưới internet đã tạo nên sự thay đổi trong việc quản lý dịch vụ kho bãi và phân phối hàng hóa. Nhờ đó, các doanh nghiệp tối ưu được khá nhiều chi phí và nguồn lực của doanh nghiệp. Hậu cần Logistics không chỉ là hoạt động độc lập của một Công ty cung cấp Dịch vụ logistics chuyên biệt, mà nó còn là hoạt động của từng doanh nghiệp. Do đó cần đảm bảo theo một trình tự nhất định, đó là Dịch vụ khách hàng; Dự báo nhu cầu; Thông tin phân phối hàng hóa; Kiểm soát lưu kho; Vận chuyển nguyên vật liệu; Quản lý quá trình đặt hàng; Lựa chọn địa điểm nhà máy, kho, gom hàng hóa, đóng gói, xếp dỡ hàng và hoạt động phân loại hàng hóa. Thực trạng logistics ở Việt Nam hiện nay được phản ánh qua những yếu tố sau đây Thực tế quản lý Nhà nước đối với ngành logistics Luật Thương mại 2006 công nhận ngành logistics là hành vi thương mại trong khi nó đã có mặt từ năm 1990. Sự chậm trễ trong việc ban hành điều luật, chỉ thị hỗ trợ phát triển ngành logistics Việt Nam chưa thực sự hiệu quả. Hoạt động của ngành đang có sự phát triển rời rạc, thiếu sự liên kết. Phạm vi hoạt động ngày càng được mở rộng Hiện nay, phạm vi hoạt động của các công ty đang dần được mở rộng. Hoạt động logistic và quản lý chuỗi cung ứng phục vụ nhu cầu nội địa và đáp ứng cho nhiều quốc gia trong khu vực. Đây là tín hiệu đáng mừng trong thực trạng logistics tại Việt Nam. Số lượng doanh nghiệp tham gia dịch vụ logistics ngày càng tăng Theo một số thống kê, hiện nay cả nước có gần 1000 doanh nghiệp đang cung ứng dịch vụ logistics. Có thể thấy số lượng doanh nghiệp tham gia phát triển Logistics ngày càng đông đảo. Tuy nhiên, hầu hết những công ty logistics này đều hoạt động với quy mô nhỏ lẻ. Có nhiều doanh nghiệp là đại lý cho các tập đoàn Logistics từ nước ngoài. Nếu xét trên quy mô lãnh thổ nước ta thì con số trên vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu. Một thực trạng ngành logistics ở Việt Nam đánh chú ý là các Công ty Logistics quốc tế đã vào Việt Nam và có sức cạnh tranh mạnh mẽ với thị phần khá lớn. Các doanh nghiệp doanh nghiệp logistics Việt chắc chắn sẽ gặp phải những thách thức lớn khi hoạt động trên thị trường. Phân tích tính cạnh tranh trong ngành logistics Việt Nam Xét về tính cạnh tranh thì chúng ta xét trên 2 lĩnh vực Logistics phục vụ xuất khẩu và Logistics phục vụ nhập khẩu Xét phần xuất khẩu Hầu hết doanh nghiệp Việt đều đang xuất khẩu theo dạng FOB, FCA. Do đó, các doanh nghiệp nhập khẩu thường chỉ định một công ty logistics nước họ để cung cấp dịch vụ. Sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt là rất thấp. Xét về phần nhập khẩu Triển vọng ngành logistics cho các doanh nghiệp Việt là rất lớn bởi nước ta là nước nhập siêu. Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp lớn đang chiếm lĩnh thị trường nhiều, doanh nghiệp nhỏ chưa có chỗ đứng trên thị trường. Đây là thực trạng logistics tại việt nam cần được chú ý cải thiện. Thực trạng ngành logistics ở Việt Nam được phản ánh rõ nét trên các yếu tố như phạm vi hoạt động, số lượng Doanh nghiệp tham gia, chi phí đầu tư, cơ sở hạ tầng, ứng dụng CNTT,… Chi phí dịch vụ cần được cải thiện Mức chi phí dịch vụ rất cao đang là vấn đề cần được cải thiện với ngành Logistics Việt Nam. Nếu không cải thiện được chi phí thì chúng ta đang đánh mất điểm mạnh về thị trường giá rẻ của mình. Mặc dù có nhu cầu lớn, nhưng tổng GDP của Logistics đóng góp chỉ đạt mức Cơ sở hạ tầng Một trong những vấn đề nan giản trong thực trạng ngành logistics ở Việt Nam là cơ sở hạ tầng còn yếu kém. Cơ sở vật chất chưa được trang bị những công cụ, phương tiện tốt nhất để vận chuyển hàng hóa. Hàng hóa vẫn thường bị ùn tắc rất nhiều và vẫn chưa có cách để xử lý ổn thỏa và triệt để nhất. Ứng dụng công nghệ thông tin chưa tốt Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào Logistics còn yếu. Ví dụ như mảng website hầu hết đềm là các thông tin giới thiệu dịch vụ mà chưa cập nhật được các tính năng theo dõi đơn hàng, lịch tàu, booking,…Để phát triển vững mạnh thì ứng dụng CNTT là rất cần thiết. >>Xem thêm Xu hướng hoạt động logistics tại Việt Nam và thế giới Hoạt động Logistics thuận lợi mang đến lợi ích gì? Hậu cần là hoạt động nếu diễn ra suôn sẻ, thuận lợi sẽ mang đến cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích. Theo đó, một số lợi ích phải kể đến như Giúp tiết kiệm thời gian hiệu quả Hậu cần là lĩnh vực bao gồm nhiều hoạt động liên quan đến việc tìm kiếm, vận chuyển, phân loại và nghiên cứu. Do đó, để rút ngắn được thời gian thực hiện các hoạt động này thì trước hết quá trình vận hành chuỗi cung ứng phải hoạt động hiệu quả. Và thực hiện suôn sẻ hoạt động Logistics chính là yếu tố tiên quyết giúp tiết kiệm thời gian xuất – nhập hàng hóa hiệu quả; Giúp tiết kiệm chi phí hiệu quả Trong một doanh nghiệp, bên cạnh chi phí vận hành hoạt động sản xuất – kinh doanh thì chi phí sử dụng cho hoạt động hậu cần chiếm tỷ trọng khá lớn. Do đó, nếu tối ưu được hoạt động này và đảm bảo quá trình Logistics diễn ra thuận lợi thì doanh nghiệp có thể tiết kiệm được khá nhiều chi phí bỏ ra để vận hành chuỗi cung ứng; Giúp doanh nghiệp tăng độ cạnh tranh trên thị trường Với chi phí tiết kiệm cùng thời gian rút ngắn, doanh nghiệp có được nhiều lợi thế hơn để cạnh tranh với các công ty khác trên thị trường. Việc tăng sức cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển lớn mạnh hơn. Lý do nên chọn Dịch vụ vận tải, Logistics tại Ratraco Solutions Dưới đây là lý do khách hàng nên lựa chọn Dịch vụ vận tải, hậu cần Logistics tại CÔNG TY TNHH GIẢI PHÁP VẬN TẢI RATRACO Trang bị Container 20 feet, 40HC, 40DC, 45FT, 45RF,…thiết bị nâng dỡ, gắp hàng Container đầy đủ; Ưu tiên sử dụng container 40 feet để vận tải lượng hàng lớn, linh hoạt được nhiều nhu cầu; Phương tiện vận tải hàng hóa cũng như cơ sở hạ tầng đường sắt mang tính chuyên dùng, riêng biệt; Lịch tàu hàng chạy cố định, ít xê dịch giúp khách chủ động sắp xếp thời gian gửi hàng; Dịch vụ giao nhận Door to Door chuyên nghiệp, chuẩn xác, đảm bảo uy tín; Vận tải đường sắt Liên vận Quốc tế gồm nhiều bộ phận liên kết chặt chẽ và ăn khớp với nhau; Có hợp đồng, hóa đơn, biên nhận vận chuyển hàng hóa đầy đủ và rõ ràng; Có đầy đủ chính sách bảo hiểm phù hợp với lô hàng xuất nhập khẩu; Hỗ trợ chủ hàng làm tất cả chứng từ cần thiết cho lô hàng cần vận chuyển; Thời gian vận chuyển hàng số lượng lớn bằng đường sắt nhanh chuẩn xác; Có nhiều hình thức giao nhận tại ga đích đến để khách hàng dễ dàng lựa chọn; Có đội bốc xếp, đóng gói, gia cố hàng hóa trước khi chuyển gửi hàng xuất nhập khẩu; Cam kết bồi thường 100% giá trị hàng nếu bị thất lạc/hư hỏng trong quá trình vận chuyển; Kho bãi TPHCM, Hà Nội, Đồng Nai, Đà Nẵng,…rộng rãi, tiên tiến với điều kiện tốt nhất để lưu trữ hàng; Thủ tục hải quan XNK thuận tiện, khai báo một lần từ điểm xuất phát đến điểm kết thúc; Lộ trình minh bạch, khách được theo dõi tình tình đơn hàng, lịch trình vận chuyển trên toàn tuyến; Nhân sự tư vấn tận tình về chứng từ, quy trình làm thủ tục XNK, áp mã HS code, C/O,…cho khách; Bộ phận Sales, CSKH sẵn sàng cập nhật về lịch trình, lợi ích, cước phí,…để khách nắm rõ. Ngoài ra, chúng tôi còn cung cấp Dịch vụ quản lý đơn hàng hiệu quả, book hàng online, cho thuê kho bãi, khai báo hải quan, theo dõi đơn hàng theo thời gian thực, điều đó giúp cho việc quản lý đơn hàng của bạn dễ dàng và trực quan hơn. Đặc biệt, Công ty vận chuyển container đường sắt Ratraco Solutions còn ứng dụng giải pháp vận chuyển giảm 25 – 30% chi phí Logistics trong chuỗi cung ứng lạnh của Doanh nghiệp nên khá tiện ích và góp phần phục hồi hoạt động kinh doanh hiệu quả sau đại dịch Covid-19. Ratraco Solutions mở rộng hệ thống bãi tập kết container để phục vụ hiệu quả cho các hoạt động hậu cần Logistics, chuyển giao, phân phối hàng tới tay người dùng,… Một số Dịch vụ vận tải, hậu cần tiêu biểu Ratraco cung cấp Dịch vụ cho thuê kho bãi; Xếp dỡ, đóng gói, bảo quản, lưu kho hàng hóa; Dịch vụ vận chuyển bằng các toa xe chuyên dùng P,NR; Dịch vụ vận chuyển Container lạnh; Vận chuyển Container liên vận quốc tế; Dịch vụ vận chuyển Container nội địa; Vận chuyển xe ô tô Nam Trung Bắc; Vận chuyển xe máy Bắc Nam,… Các phương thức giao nhận hàng xuất/nhập khẩu Vận chuyển hàng nguyên Container từ Ga – Ga; Vận chuyển hàng hóa bằng Container từ Ga – Kho; Vận chuyển Container hàng hóa từ Kho – Kho; Các dịch vụ đi kèm khác nếu khách hàng yêu cầu. Quy trình vận chuyển hàng nguyên container đường sắt Ratraco Solutions Bước 1 Khách hàng phát sinh nhu cầu và lựa chọn Đơn vị vận tải hàng bằng đường sắt Ratraco Solutions; Bước 2 Khách hàng cung cấp thông tin về lô hàng, nhận báo giá và tiến hành đàm phán giá cước vận chuyển với Ratraco Solutions; Bước 3 Ký hợp đồng và khách chuẩn bị hàng hóa, các giấy tờ liên quan để cung cấp cho Ratraco Solutions; Bước 4 Ratraco Solutions kết hợp phương thức vận chuyển đường sắt + đường bộ vận chuyển hàng hóa theo nhu cầu của khách hàng đến tận kho; Bước 5 Khách hàng kiểm tra hàng hóa và ký biên bản giao nhận giữa 2 bên; Bước 6 Khách hàng tiến hành thanh toán cước vận chuyển cho Ratraco Solutions. RatracoSolutions Logistics đã cập nhật nhanh thực trạng logistics ở Việt Nam hiện nay nên các đơn vị, Doanh nghiệp đã, đang và sẽ tham gia vào mảng Dịch vụ hậu cần tham khảo để điều phối hàng hóa sao cho hợp lý. Nhìn chung, thực trạng logistics tại Việt Nam cũng có những bước phát triển theo chiều hướng tích cực nhưng còn tồn tại nhiều mặt hạn chế nhất định như chi phí quá cao, cơ sở hạ tầng còn yếu kém nhưng nếu tìm ra đúng hướng đi thì kết quả sẽ nhận lại rất khả quan. Khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ, liên hệ ngay với Công ty vận tải đường sắt chúng tôi để được đáp ứng mọi yêu cầu về hoạt động Logistics, xuất nhập khẩu,…với giá cả phải chăng, quy trình chuyên nghiệp và có sự kết nối chặt chẽ giữa các bộ phận với nhau. Thông tin liên hệ Ratraco Solutions Công ty TNHH Giải Pháp vận tải RatracoĐịa chỉ 21Bis Hậu Giang, Phường 4, Tân Bình, TPHCMHotline 0965 131 131Email toannguyen Ratraco Solutions - Railway LogisticsZalo Trụ sở TPHCM Địa chỉ 21bis Hậu Giang, Bình, TPHCM Điện thoại 0909 876 247 - 0901 411 247 Bình Dương Địa chỉ Ga Sóng Thần Điện thoại 0901 411 247 - 0909 876 247 Đồng Nai Địa chỉ Ga Trảng Bom Điện thoại 0909 986 247 - 0909 876 247 Bình Định Địa chỉ Ga Diêu Trì Điện thoại 0901 411 247 - 0909 986 247 Đà Nẵng Địa chỉ Ga Đà Nẵng Điện thoại 0909 199 247 - 0906 354 247 Nghệ An Địa chỉ Ga Vinh, Nghệ An Điện thoại 0901 100 247 - 0902 486 247 Hà Nội Địa chỉ 95 - 97 Lê Duẩn, P. Cửa Nam, Kiếm, Hà Nội Điện thoại 0902 486 247 - 0901 100 247 Trung Quốc Địa chỉ Ga Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc Điện thoại 0909 949 247 Cơ sở hạ tầng trong hoạt động dịch vụ Khái quát về cơ sở hạ tầng trong dịch vụ kinh tế việt nam đang trên đà hội nhập và phát triển, khối lượng hàng hóa ngàymột tăng lên để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Do đó đòi hỏi cần có mộtngành dịch vụ logistics phát triển giúp lưu thông hàng hóa nhanh chóng quá trình lưu thông,phân phối được thông suốt, chuẩn xác và an toàn, giảm được chi phí vận tải. Nhờ đó hàng hoáđược đưa đến thị trường một cách nhanh chóng kịp thời. Trên thực tế ngành logistics của việtnam còn rất yếu kém chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu. trong khi đó chi phí của doanh nghiệpdành cho hoạt động logistics là rất lớn chiếm hơn 20% doanh số bán ra. Chi phí logistics caolàm giảm thiểu tính cạnh tranh của doanh nghiệp việt nam so với khu vực và thế giới. Nguyênnhân cho sự yếu kém này xuất phát từ rất nhiều lý do. Một lý do không thể không kể đến là cơsở hạ tầng của ngành còn rất yếu thể nói cơ sở hạ tầng, đặc biệt hạ tầng giao thông là nền tảng, là trái tim, mạch máu củahoạt động logistics. Hiện phải nhìn nhận thẳng thắn rằng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam vẫn cònchưa phát triển kịp với sự phát triển của nền kinh tế nếu không muốn nói là lạc hậu, thiếu đồngbộ. Vấn đề này đòi hỏi các nhà quy hoạch phải có một tầm nhìn, định hướng đúng đắn và đặcbiệt là Chính phủ cần quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng để ngành logistics phát triển đúng doanh nghiệp cần có sự đầu tư về nhân sự, trang thiết bị hạ tầng cơ sở, áp dụng công nghệhiện đại. Về phía Chính phủ phải đầu tư quy hoạch hạ tầng giao thông đồng bộ, hành lang pháplý thông thoáng...Bên cạnh đó hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam bao gồm trên kmđường nhựa, hơn km đường sắt, km đường thuỷ, 266 cảng biển và 20 sân nhiên chất lượng của hệ thống này là không đồng đều, có những chỗ chưa đảm bảo về mặtkỹ thuật. Hiện tại, chỉ có khoảng 20 cảng biển có thể tham gia việc vận tải hàng hoá quốc tế,các cảng đang trong quá trình container hóa nhưng chỉ có thể tiếp nhận các đội tàu nhỏ và chưadược trang bị các thiết bị xếp dỡ container hiện đại, còn thiếu kinh nghiệm trong điều hành xếpdỡ container. Đường hàng không hiện nay cũng không đủ phương tiện chở hàng máy baycho việc vận chuyển vào mùa cao điểm. Chỉ có sân bay Tân Sơn Nhất là đón được các máy baychở hàng quốc tế. Các sân bay quốc tế như Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà nẳng vẫn chưa có nhàga hàng hóa, khu vực họat động cho đại lý logistics thực hiện gom hàng và khai quan như cácnước trong khu vực đang làm. Khả năng bảo trì và phát triển đường bộ còn thấp, dường khôngdược thiết kế để vận chuyển container, các đội xe tải chuyên dùng hiện đang cũ kỹ, năng lựcvận tải đường sắt không đựơc vận dụng hiệu quả do chưa được hiện đại hóa. Theo số liệu củaTổng cục Thống kê, lượng hàng hoá vận chuyển đường sắt chiếm khoảng 15% tổng lượnghàng hoá lưu thông. Tuy nhiên, đường sắt Việt Nam vẫn đang đồng thời sử dụng 2 loại khổ raykhác nhau và mm với tải trọng thấp. Chuyến tàu nhanh nhất chạy tuyến Hà Nội -TP Hồ Chí Minh km hiện vẫn cần đến 32 tiếng đồng hồ. Và khá nhiều tuyến đườngliên tỉnh, liên huyện đang ở tình trạng xuống cấp nghiêm trong những khó khăn không nhỏ khác cho ngành logistics của Việt Nam là nguồnnhân lực đang thiếu một cách trầm trọng. Theo ứơc tính của VIFFAS, nếu chỉ tính các nhânviên trong các công ty hội viên khỏang 140 thì tổng số khỏang 4000 người. ây là lực lượngchuyên nghiệp, ngoài ra ước tính khỏang 4000-5000 người thực hiện bán chuyên nhân lực được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Từ trước tới nay, các trường đại học,cao đẳng chuyên ngành ngoại thương, hàng hải, giao thông vận tải cũng chỉ đào tạo chung cáckiến thức cơ bản về nghiệp vụ ngoại thương, vận tải. Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo về loạihình dịch vụ này cũng chưa nhiều. Ngay cả như các chuyên gia được đào tạo chuyên nghiệptrong lĩnh vực này vẫn còn quá ít so với yêu cầu phát Vai trò của cơ sở hạ tầng để phát triển dịch vụ giao nhận vận tải, cơ sở hạ tầng đóng vai trò rất quan trọng bao gồm hệ thốngcảng biển, sân bay đường sắt, đường ô tô, đường song và các công trình, trang thiết bị khácnhư hệ thống kho bãi, phương tiện xếp dỡ, hệ thống thông tin liên lạc. Cơ sở hạ tầng là mộttrong những bộ phận cấu thành hoạt động cung ứng dịch vụ logistics. Trong các yếu tố cấuthành chuỗi logistics thì giao nhận vận tải là khâu quan trọng nhất. Chi phí vận tải thườngchiếm hơn 1/3 tổng chi phí của logistics. Trong tổng chi phí giao nhận vận tải thì chi phí giaonhận vận tải bằng đường biển chiếm tỷ trọng lớn nhất, đơn giản bởi vì vận tải bằng đường biểncó những ưu điểm vượt trội mà các phương thức vận tải khác không có được như chi phí thấp,vận tải với khối lượng lớn, thân thiện với môi mạnh phát triển kinh tế. Giao thông đường bộ GTĐB góp phần thu hút đầu tư, rút ngắn được khoảng cách địalý giữa các tỉnh thành trong cả nước do đó làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, rút ngắn trìnhđộ phát triển kinh tế giữa các địa phương, tạo điều kiện phát huy lợi thế so sánh của từng địaphương và thúc đẩy các địa phương phát triển kinh tế. Hệ thống GTĐB phát triển sẽ tạo điềukiện cho các hoạt động giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các vùng và địa phương với nhau,giữa các quốc gia này từ đó sẽ tìm ra được những cơ hội đầu tư tốt và tiến hành đầu tư, cáchoạt động xúc tiến thương mại phát triển cùng với đó là thu hút các nguồn vốn trong nước vàngoài nước cho mục tiêu phát triển kinh góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua kíchthích tạo việc làm và tăng năng suất lao phát triển của hạ tầng giao thông đường bộ đãgóp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong thời gian qua. Hạ tầng GTĐB phát triển sẽ đóng góp tích cực vào việc tiết kiệm chi phí và thời gianvận chuyển, từ đó tạo điều kiện giảm giá thành sản phẩm, kích thích tiêu dùng và phát triển củacác ngành các loại hình vận tải ở Việt Nam thì vận tải bằng đường bộ chiếm tỷtrọng lớn nhất do đó nếu hạ tầng GTĐB tốt sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, và có thể lấy sốchi phí tiết kiệm được để thực hiện phát triển các ngành triển văn hoá-xã hội Hệ thống đường bộ phát triển sẽ nảy sinh các ngành nghề mới, các cơ sở sản xuất mớiphát triển từ đó tạo cơ hội việc làm và sự phát triển không đồng đều giữa các vùng cũng đượcgiảm, hạn chế sự di cư bất hợp pháp từ nông thôn ra thành cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hạ tầng GTĐB sẽ đóng góp đáng kể vào việc giảm chi phí của doanh nghiệp đặc biệtlà các doanh nghiệp có chi phí vận tải chiếm một tỷ trọng hạ tầng GTĐB phát triển thìcác doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí nhiên liệu, chi phí vận chuyển hàng hoá tới nơi tiêuthụ, chi phí nhập nguyên liệu; ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể tiết kiệm được một số chi phíkhác như chi phí quản lý và bảo quản hàng hoá, chi phí lưu trữ hàng tồn kho…Nhờ đó màdoanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm và nâng cao cạnh tranh của doanh nghiệp trên thống GTĐB phát triển cũng sẽ giúp các doanh nghiệp giao hàng đúng nơi và đúngthời gian từ đó tạo được uy tín cho doanh nghiệp, trong kinh doanh thì điều này là rất khác khi giao thông đường bộ phát triển thì sản phẩm dễ dãng đến tay người tiêudùng do đó hàng hóa sẽ được tiêu thụ nhanh hơn, điều này sẽ rút ngắn thời gian quay vòng vốnvà làm tăng hiệu quả sử dụng vốn cũng như tăng hiệu quả sản xuất của các doanh đảm an ninh quốc phòng Hệ thống GTĐB đóng góp tích cực vào việc giữ gìn trật tự an ninh xã hội, và bảo vệquốc hạ tầng GTĐB hiện đại sẽ giảm thiểu đuợc tình trạng ùn tắc đường đang xảyra trong thời gian qua đặc biệt là ở các thành phố lớn, giảm tai nạn giao thông, giữ gìn trật tựxã hội. Đây là một trong những vấn đề mà đảng và chính phủ đang rất quan mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế Hội nhập và giao lưu kinh tế về mọi mặt đang là xu hướng diễn ra mạnh mẽ giữa cácnước trong khu vực và trên toàn thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu nay thì hạ tầng GTĐB của nước ta còn ở mức yếu so với các nước trong khu vực nênảnh hưởng lớn khả năng hội nhập và giao lưu với các vì vậy mà Việt Nam đangxúc tiến để xây dựng các hệ thống đuờng xuyên quốc gia góp phần mở rộng giao lưu kinh tế vàvăn hóa giữa các nước Hơn nữa, hệ thống GTĐB phát triển sẽ góp phần bảo vệ biên giới của đất triển góp phần nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức của người dân đặc biệt là các dân tộcở vùng xâu vùng xa từ đó đảm bảo sự ổn định về chính trị quốc gia. Giao thông được xác địnhlà một hệ thống công trình hạ tầng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Xây dựng cơ sở vật chấtkỹ thuật của ngành giao thông - vận tải là khâu quan trọng trong kết cấu hạ tầng, là yếu tố cơbản thúc đẩy phát triển giao lưu kinh tế trong và ngoài nướcGiảm ách tắc, gia tăng sản lượng xếp dỡ tại các cảng biển, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, từđó thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước cho phát triển bảo vận chuyển đúng thời gian và địa điểm-Đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất và phân phối hàng hoáNhu cầu tiêu dùng có thể biến đổi theo mùa vụ hoặc thay đổi khó lường .Các nguồncung cũng luôn có những diễn biến phức tạp trong khi hoạt động sản xuất cần được duy trì liêntục, ổn định, do vậy lượng dự trữ nhất định trong kho giúp doanh nghiệp có thể đối phó đượcvới những thay đổi bất thường của điều kiện kinh doanh phòng ngừa rủi hệ thống sản xuất thì kho được xem như là 1 bể điều tiết các hoạt động của quá trình sảnxuất vì vậy mà nó còn đảm bảo điều hòa sản xuất. Khi bể này tắt nghẽn thì sẽ làm cho toàn bộquá trình sản xuất hoặc cung cấp hàng hóa kịp thời bị gián đoạn phần giảm chi phí sản xuất, vận chuyển, phân phốiNhờ có kho nên có thể chủ động đặt các đơn, lô hàng với quy mô kinh tế lớn trong quátrình sản xuất và phân phối nhờ đó mà giảm chi phí bình quân trên 1 đơn vị. Hơn nữa, kho gópphần vào việc đảm bảo hàng hoá sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lô hàng đượcbảo đảm, tiết kiệm chi phí lưu thông qua việc quản lý tốt định mức hao hụt hàng hoá, sử dụngtiết kiệm và hiệu quả cơ sở vật chất của trợ quá trình cung cấp dịch vụThông qua việc đảm bảo hàng hóa sẵn sàng về số lượng, chất lượng và trạng thái lôhàng giao, góp phần giao hàng đúng thời gian và địa Vai trò của công nghê thông tinTrong quá trình hoạt động Logistics thì các hoạt động dịch vụ khách hàng, dự trữ, vậnchuyển là những hoạt động then chốt. Tuy nhiên để những hoạt động này đạt kết quả tốt cầnphải có những hoạt động hỗ trợ như thu mua, nghiệp vụ kho và bao bì, vận chuyển và một hoạtđộng không kém phần quan trọng là quá trình quản trị hệ thống thông tin tintrong quản trị Logistics là chất kết dính hoạt động Logistics trong các nỗ lực hợp nhất của nhàquản trị, thông tin Logistics cung cấp cơ sở cho các quyết định lập kế hoạch, thực thi và kiểmtra Logistics hiệu quả. Nếu không quản trị tốt thông tin, các nhà quản trị Logistics không thểbiết được khách hàng muốn gì, cần dự trữ bao nhiêu và khi nào cần sản xuất và vận biển là đầu mối vận tải quan trọng, nơi tập trung, kết nối tất cả các phương tiệnvận tải đường sắt, đường bộ, đường hang không, đường biển. Năng lực hệ thống cảngcontainer đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của dịch vụ nhân tố chínhảnh hưởng đến năng lực hệ thống cảng container bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thốngcảng container, cơ sở hạ tầng kết nối với hệ thống cảng, nguồn nhân lực cho phục vụ vận hànhcảng, cơ chế quản lý và khai thác phát triển cảng container không những thúc đẩyxuất khẩu, phát triển ngoại thương mà còn hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động logistics. Tuy nhiên,để phát triển hình thức vận tải bằng container đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng vậntải phù hợp, trong đó quan trọng nhất là hệ thồng cảng biển. Các cảng biển này phải có bến chotàu container và trang thiết bị chuyên dung để xếp dỡ, trung chuyển hàng container, kho bãi đểphục vụ đóng hàng hay rút hàng từ container, …-Sự phát triển của cảng biển giúp ngành logistics giảm chi phí, tăng khả năng cạnhtranh và nâng cao chất lượng dịch vụ. Cảng biển được xây dựng tại một vị trí thuận lợi có thểkết nối trực tiếp với vận tải đường biển, đường sông, hàng không… sẽ giúp giảm bớt chi phí vềvận tải do có thể kết hợp tốt với vận tải đa phương thức. Các thiết bị chuyên dùng hiện đại củacảng sẽ giúp rút ngắn thời gian dỡ hàng, đồng nghĩa với việc giảm bớt chi phí lưu kho, lưu chủ tàu sẽ bớt được chi phí neo đậu làm hàng. Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử trực tuyến EDI sẽ giúp giảm bớt chi phí về thủ tục giấy tờ, giúp nhà cung cấp dịch vụ logistics có thểkiểm soát và quản lý được thông tin mọi lúc, mọi nơi. Riêng với cảng mở sẽ giúp giảm bớt cácchi phí về thủ tục hải quan, thuế xuất nhập khẩu. Ngày 8/6 vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2018/NĐ-CP ngày 8/10/2018 quy định về kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới Nghị định số 30. Cục Đăng kiểm Việt Nam đánh giá ​Nghị định số 30 được cho là một trong những giải pháp cải cách hoạt động của hệ thống đăng kiểm nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn và phù hợp với xu thế phát triển trong tình hình mới. SIẾT CHẶT NHIỀU QUY ĐỊNH, PHÂN CẤP RÕ RÀNG Theo đó, Nghị định được ban hành với mục đích vừa siết chặt một số quy định nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động kiểm định. Đồng thời, cũng điều chỉnh một số quy định để huy động tối đa nguồn lực phục vụ kiểm định xe cơ giới nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu kiểm định của người dân và doanh nghiệp. Cụ thể, các nội dung bổ sung, sửa đổi chính của Nghị định số 30 quy định chặt chẽ hơn một số nội dung nhằm tăng hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng công tác kiểm định. "Quản lý chặt chẽ hơn việc cấp phép cho các đơn vị đăng kiểm, theo đó việc xây dựng, thành lập đơn vị đăng kiểm phải phù hợp với quy hoạch của địa phương; phù hợp với số lượng, mật độ phương tiện trên địa bàn; phù hợp kết nối hệ thống giao thông; thuận tiện cho xe cơ giới ra vào kiểm định và không gây cản trở, ùn tắc giao thông, đặc biệt là tại các đô thị lớn", Cục Đăng kiểm Việt Nam phân tích. Đồng thời, "Nghị định số 30 cũng phân cấp rõ ràng, minh bạch về trách nhiệm quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương trong việc cấp phép, quản lý các đơn vị đăng kiểm, đăng kiểm viên", Cục Đăng kiểm Việt Nam nhấn mạnh. Trong đó, sở giao thông vận tải thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định xe cơ giới của các đơn vị đăng kiểm trên địa bàn. Còn Cục Đăng kiểm Việt Nam thực hiện công tác quản lý nghiệp vụ chuyên ngành và chịu trách nhiệm thực hiện cấp chứng chỉ đăng kiểm viên trên phạm vi cả nước. Nghị định cũng quy định rõ hơn về công tác thanh tra, kiểm tra, theo đó các sở giao thông vận tải chịu trách nhiệm thanh tra, kiểm tra tại địa phương. Còn Cục Đăng kiểm Việt Nam chịu trách nhiệm kiểm tra chuyên ngành trên phạm vi cả nước. "Quy định chặt chẽ, rõ ràng hơn về cơ cấu tổ chức, nhân lực của đơn vị đăng kiểm; làm rõ trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị, phụ trách bộ phận kiểm định, đăng kiểm viên, nhân viên nghiệp vụ…; tăng chế tài xử lý vi phạm đơn vị đăng kiểm và đăng kiểm viên để tăng tính răn đe", Cục Đăng kiểm Việt Nam cho biết. Ngoài ra, tăng trách nhiệm của đơn vị đăng kiểm và ràng buộc trách nhiệm của tổ chức thành lập đơn vị đăng kiểm nếu để xảy ra sai phạm. CƠ SỞ BẢO DƯỠNG Ô TÔ ĐƯỢC THAM GIA HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH Song song với đó, theo Cục Đăng kiểm Việt Nam, Nghị định số 30 cũng điều chỉnh một số nội dung nhằm thu hút tối đa các nguồn lực, tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng tiến bộ khoa học vào hoạt động kiểm định. Theo đó, Nghị định 30 bãi bỏ nhiều quy định tại Điều 4 Nghị định 139 về nguyên tắc hoạt động dịch vụ kiểm định xe cơ giới. Cụ thể, "nghị định sửa đổi quy định để các cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ô tô, các đơn vị vận tải có thể tham gia hoạt động cung cấp dịch vụ kiểm định xe cơ giới", Cục Đăng kiểm Việt Nam thông tin. Quy định trước đây nêu rõ tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới phải độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính với các tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới. Đồng thời, tổ chức, cá nhân kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, bảo dưỡng, sửa chữa xe cơ giới không nắm giữ cổ phần hoặc góp vốn trên 10% của tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới. Như vậy, với việc bãi bỏ quy định nêu trên, cơ sở bảo dưỡng ô tô được tham gia kiểm định xe ô tô khi đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức, nhân lực theo quy định tại nghị định này. Đồng thời, nghị định cho phép các lực lượng công an, quân đội được tham gia hỗ trợ hoạt động kiểm định xe cơ giới dân sự trong trường hợp cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân. Cùng với đó, "điều chỉnh số lượng nhân sự tối thiểu trong mỗi dây chuyền để giảm áp lực thiếu hụt nhân sự đăng kiểm viên hiện nay đồng thời khuyến khích các đơn vị đăng kiểm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác kiểm định", Cục Đăng kiểm Việt Nam lưu ý. Ngoài ra, điều chỉnh giảm thời gian thực tập nghiệp vụ đối với các trường hợp đã có kinh nghiệm làm việc trực tiếp tại cơ sở bảo hành, bảo dưỡng ô tô nhằm nhanh chóng thu hút được nguồn lực phục vụ hoạt động của các đơn vị đăng kiểm. Nghị định cũng bãi bỏ quy định khống chế số lượng xe kiểm định trong ngày của đơn vị đăng kiểm nhằm phát huy sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của các đơn vị đăng kiểm trong cải tiến công việc, nâng cao năng suất lao động. Ngoài những nội dung chính trên, Nghị định số 30 còn bổ sung, sửa đổi một số nội dung khác để phù hợp hơn với thực tiễn trong nước và thông lệ quốc tế về kiểm định xe cơ giới. Nghị định cũng có điều khoản chuyển tiếp phù hợp tới trước 01/01/2026 để việc phân cấp tới các sở giao thông vận tải địa phương đảm bảo tính khả thi khi thưc hiện.

cơ sở hạ tầng logistics việt nam