Những bài văn mẫu hay lớp 11. Văn mẫu lớp 11: Trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" có một "tượng đài nghệ thuật" mang tính bi tráng về người nông dân yêu nước chống ngoại xâm gồm các bài văn mẫu hay cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc, Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng là một thành tựu Mục lục bài viết: 1. Thành phần số 1 2. Thành phần số 2 3. Bài văn số 3. Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, phần tác phẩm, tập 1. Tôi làm việc. Câu hỏi 1: * Hình thức văn học một. Khái niệm: Là loại văn gắn với tang lễ, bộc bạch sự tiếc thương đối với người Tiết 17,18,19,20 Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Nguyễn Đình Chiểu I Mục tiêu cần đạt 1 Kiến thức Bức tượng dài bi tráng về người nông dân Nam Bộ yêu nước buổi đầu chống thực dân Pháp Thái độ cảm phục, xót. - Nêu các chi tiết nghệ thuật của bài văn tế - Trình bày Tổng hợp các đề văn về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cùng các câu hỏi cho bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được Công ty cổ phần Giáo Dục Việt Nam tổng hợp. आप मेरे गधे की कोशिश करना चाहते हैं! सह करने की कोशिश Tài liệu liên quan tới tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Soạn bài lớp 11: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Tóm tắt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu. Văn mẫu lớp 11: Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn PR0cE. Chắc hẳn bạn đang gặp khó khi viết bài làm văn phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu! Ở bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết cách làm và tuyển chọn các bài văn mẫu hay nhất để giúp bạn hoàn thành bài viết của mình một cách đầy đủ giờ hãy cùng tham khảo nhé...Hướng dẫn cách làm bài phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc1. Phân tích đề- Yêu cầu đề bài Phân tích nội dung, nghệ thuật của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Phạm vi tư liệu dẫn chứng các chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Nguyễn Đình Chiểu- Phương pháp lập luận chính phân tích2. Các luận điểm chính cần triển khai- Luận điểm 1 Bối cảnh thời đại và lời khẳng định sự bất tử của người nông dân nghĩa sĩ- Luận điểm 2 Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc với lòng yêu nước nồng nàn- Luận điểm 3 Sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ- Luận điểm 4 Ca ngợi linh hồn bất diệt của người nghĩa sĩLập dàn ý phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc1. Mở bài phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Giới thiệu khái quát về Nguyễn Đình Chiểu là một người chịu nhiều bất hạnh, khổ đau trong cuộc đời, gắn bó mộc mạc, chân chất với những người dân Nam Giới thiệu chung về văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Thân bài phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộca. Phần 1 - Lung khởi khái quát bối cảnh thời đại và lời khẳng định sự bất tử của người nông dân nghĩa sĩ- Mở đầu “Hỡi ôi!”+ Tiếng than thể hiện tình cảm thương xót đối với người đã khuất+ Tiếng kêu nguy ngập, căng thẳng của đất nước trước giặc ngoại xâm=> tiếng than lay động lòng người, nỗi xót xa, đau đớn trong lòng tác giả+ Nghệ thuật đối “Súng giặc đất rền” – “Lòng dân trời tỏ” => phác họa khung cảnh bão táp của thời đại+ Hình ảnh không gian to lớn đất, trời kết hợp những động từ gợi sự khuếch tán âm thanh, ánh sáng rền, tỏ => sự đụng độ giữa thế lực xâm lược hung bạo với vũ khí tối tân và ý chí chiến đấu của nhân dân Mười năm công võ ruộng – Một trận nghĩa đánh Tây+ Người nông dân trở thành người nghĩa sĩ, yếu tố thời gian phản ánh sự chuyển biến, sự vùng dậy đấu tranh mau lẹ của người dân yêu nước.+ Hoàn cảnh đất nước bị Pháp xâm lược và sự phản ứng mạnh mẽ đấu tranh chống trả của nhân Phần 2 - Thích thực Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc- Trước khi giặc đến+ Lai lịch là những người nông dân+ Cuộc sống cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy vốn quen làm...+ Sử dụng từ láy cui cút tái hiện cuộc sống chịu khó, lam lũ, bao lo toan, vất vả nhưng vẫn nghèo túng của những người nông dân. Đó là cuộc sống gắn bó với ruộng đồng, con trâu, cái cày => họ hiền lành, chất phác.+ Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ,... => xa lạ, không hiểu biết với công việc nhà binh, chiến Khi giặc đến Lòng yêu nước nồng nàn+ mùi tinh chiên vấy vá... / ghét thói mọi... / bữa thấy bòng bong... => Hành động tội ác và sự hoành hành ngang nhiên, khiêu khích của quân thù diệt tàn cuộc sống của người nông dân.+ Lòng căm thù giặc kìm nén qua các yếu tố thời gian hơn 10 tháng, đã 3 năm đến mức phản ứng tự nhiên mà quyết liệt muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ,...+ Nhận thức một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu => nhận thấy trách nhiệm của mình trước hoàn cảnh đất nước.+ Hành động Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; chẳng thèm trốn ngược, trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ -> tự nguyện bổ sung vào đội quân chiến đấu với quyết tâm sắt Cuộc chiến đấu với kẻ thù của nghĩa sĩ Cần Giuộc+ Điều kiện chiến đấu vô cùng khó khănLực lượng không quen binh đaoVũ khí vật dụng thô sơBinh thư, binh pháp không quen, không biết+ Tinh thần chiến đấu hi sinh của người nông dânTinh thần theo tình cảm tự nhiên, không tính toán, quả cảm, khí thế vũ bãoHành động đạp, xô, đấm, đánh, đâm, chém,...-> Một loạt các động từ gợi sức mạnh, tư thế hiên ngang, tinh thần quả cảm của nghĩa sĩ được sử dụng=> Bức tranh chiến trận thể hiện rõ tinh thần bão táp, hào hùng của người nghĩa sĩ Cần Giuộc.=> Tượng đài nghệ thuật sừng sững, rực rỡ về hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân Cần Phần 3 - Ai vãn Sự tiếc thương và cảm phục của tác giả trước sự hi sinh của người nghĩa sĩ- Bày tỏ lòng tiếc thương, sự cảm phục của tác giả và nhân dân đối với người nghĩa sĩ => Bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của người Tiếng khóc được cộng hưởng từ nhiều nguồn cảm xúc khác nhau+ Nỗi tiếc, ân hận của người phải hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở, chí nguyện chưa thành.+ Nỗi xót xa của những gia đình mất người thân, tổn thất không thể bù đắp đối với những người mẹ già, vợ trẻ.+ Nỗi căm giận kẻ thù gây nên nghịch cảnh éo le hòa chung tiếng khóc uất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước.+ Niềm cảm phục và tự hào vì những người nông dân bình thường đã dám đứng lên bảo vệ từng tấc đất, ngọn rau, lấy cái chết làm rạng ngời chân lí cao đẹp chết vinh còn hơn sống nhục.+ Biểu dương công trạng của người nghĩa sĩ đời đời được nhân dân ngưỡng mộ và Tổ quốc ghi công.=> Tiếng khóc không chỉ thể hiện tình cảm riêng tư mà cao hơn, tác giả đã thay mặt nhân dân cả nước khóc thương và biểu dương công trạng của người liệt sĩ. Tiếng khóc không chỉ gợi nỗi đau thương mà còn khích lệ tinh thần chiến đấu của người còn Phần 4 - Kết Ca ngợi linh hồn bất diệt của nghĩa sĩ- Hai câu cuối thể hiện niềm thành kính thiêng liêng của tác giả trước hình tượng người nghĩa sĩ nông dân nước mắt anh hùng lau chẳng ráo => giọt nước mắt chân thành của Nguyễn Đình Bài văn tế kết thúc trong giọng điệu trầm buồn. Ngữ điệu câu không trọn vẹn => giây phút mặc niệm, cái nấc nghẹn ngào đến đau đớn của Đồ Chiểu, của bao người gửi đến những nghĩa sĩ đã ngã xuống vì đất nước=> Ngợi ca công đức của Kết bài phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm+ Nội dung Tiếng khóc bi thương cho một thời kì lịch sử "khổ nhục nhưng vĩ đại" của dân tộc; ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người nông dân lúc bấy giờ.+ Đặc sắc nghệ thuật hình ảnh và giọng điệu xót thương; thủ pháp tương phản và có cấu trúc của thể văn biền ngẫu tạo sự trang trọng cho bài văn tế; ngôn ngữ vừa trân trọng, vừa dân dã, gần gũi mang đậm sắc thái Nam Bộ.>>> Xem thêm Mẫu dàn ý phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcTuyển chọn văn mẫu hay phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc1. Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngắn nhất bài mẫu số 1Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của nên văn học Việt Nam. Song cuộc đời ông không hề êm đẹp, năm 1849 ông phải bỏ thi để về chịu tang mẹ. Trên đường đi ông bị đau mắt rồi bị mù, về sau ông ra dạy học và bốc thuốc cho dân, cuối cùng tham gia chống Pháp. Chắc bởi có nhiều thời gian ở gần người dân nói chung và nông dân nói riêng nên ông thấu hiểu sự khổ cực, vất vả nhưng lại mang vẻ đẹp bi tráng, sẵn sàng hi sinh vì dân tộc của nông dân Nam Bộ mà ông đã viết nên một trang văn hào kiệt "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" theo yêu cầu của Đỗ tế gồm bốn phần Lung khởi, thích thực, ai vãn và kết. Với bố cục như vậy, Nguyễn Đình Chiểu dựng lên trong mắt người đọc, người nghe một bức tượng đài bất tử về người nông phần lung khởi, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu lên lí lẽ sống chết. Đó là đứng lên chống lại ngoại xâm bởi súng giặc làm đất rền, còn lòng dân thì trời sẽ tỏ. Bằng phép đối, ông đã nói lên sự căm phẫn của nhân dân trước việc nước nhà bị xâm lăng. Bên cạnh đó, ông còn so sánh cái danh về việc làm ruộng và đánh giặc việc bỏ sức mười năm dở công vỡ ruộng, đối với một trận đánh tây, và cái danh mang lại của mười năm chưa thể nào nổi như phao của trận đánh tây đó, danh tiếng hào hùng vang xa như tiếng mõ vang hào hùng, khí bởi lẽ sống chết đó, cùng với lòng yêu nước và sự căm thù giặc, căm thù những thói mọi nó giống như kiểu nhà nông ghét cỏ và sự phẫn nộ đó tột độ đến mức muốn ăn gan, muốn cắn cổ bọn giặc ngoại và một nỗi thấu hiểu "nước mất, nhà tan" làm sục sôi và giai cấp nông dân đã đứng lên khởi nghĩa. Đó là những người nông dân côi cút làm ăn trước giờ chuyên cuốc, chuyên cày, bừa, còn việc quân sự như tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, họ chưa từng ngó lấy, chưa từng nhìn ấy thế mà nào phải đợi ai đến, ai bắt, họ đã tự xin ra sức đoạn kình đấu tranh tự nguyện ngay cả khi chưa trở thành người là những người nông dân dũng cảm, chiến đấu không màng sống chết với hình ảnh hùng dũng không ngại sắt thép đang chĩa ra mà đạp rào lướt tới, coi giặc như không hiện hữu; không biết sợ thằng Tây nào đang bắn những đạn nhỏ đạn to, mà xô cửa xông vào liều mình với tất cả nhưng như chẳng có. Mặc dù vũ khí của họ rất thô sơ chỉ là ngọn tầm vông, những chi nài, dao tu, nón gõ nhưng vẫn lao vào địch mà đâm ngang, chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kê tàu thiếc, tàu đồng súng nổ. Họ chiến đấu vì tổ quốc, vì dân tộc nên sẵn sàng bỏ lại gia đình của riêng. Đây chính là nội dung của phần thích phần ai vãn, Nguyễn Đình Chiểu thể hiện lòng tiếc thương đối với những người nông dân mang vẻ đẹp bi tráng và lòng yêu nước bất khuất không sợ hi sinh, trong cuộc chiến Cần Giuộc. "Một giấc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ", bởi thế "già, trẻ hai hàng lụy nhỏ", "mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn kia leo lét trong lều", "vợ yêu chạy tìm chồng". Đó là sự xót xa, đau khổ, thương tình đối với các chiến sĩ của Nguyễn Đình Chiểu nói riêng và toàn thể nhân dân Cần Giuộc nói với phần kết, một lần nữa tác giả nhấn mạnh việc sống ở đời thì phải thờ vua, giặc đến thì phải ra sức bảo vệ nước nhà như những nghĩa sĩ Cần Giuộc. Những nghĩa sĩ dù đã hi sinh vẫn sẽ mãi tiếp bước cùng dân tộc trong công cuộc gìn giữ đất lại, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng khóc bi tráng của một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tường đai bất tử về những người nông dân Cần Giuộc nói riêng và toàn thể người dân Nam Bộ nói chung đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì đất nước trong thời chiến. Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật tạo hình tượng nhân vật kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực; ngôn ngữ bình dị, trong sáng, và sinh động.➜Bạn nên tham khảo bài hướng dẫn đọc hiểu Văn tế nghĩa sĩ cần giuộc để nắm vững hơn nội dung và các kiến thức về ý nghĩa, nghệ thuật... của tác phẩm Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bài mẫu số 2Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ, nhà văn hàng đầu ở Nam Bộ thời kì văn học Trung đại, là ngôi sao sáng của văn học dân tộc. Ông để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ, thể hiện lí tưởng nhân nghĩa và lòng yêu nước sâu sắc. Trong hệ thống tác phẩm đó ta không thể không nhắc đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của tế nghĩa sĩ Cần Giuộc sáng tác trong hoàn cảnh thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Cần Giuộc nổ ra và giành thắng lợi bước đầu. Sau đó giặc phản công dữ dội, 20 nghĩa sĩ bị giết chết. Bấy giờ, tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang đã yêu cầu Nguyễn Đình Chiểu viết một bài văn tế để đọc trong lễ truy điệu của các nghĩa sĩ Cần đầu tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu luận bàn về lẽ sống chết “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ/ Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ”. Tác giả vẽ ra bối cảnh thời đại với nhiều biến cố, bão táp giặc được trang bị vũ khí tối tân, đã tàn sát biết bao người dân Nam Bộ. Chính trong hoàn cảnh ấy đã thử thách tấm lòng của con người đối với đất nước. Người dân Nam Bộ đã không nề hà sống chết, đem thân mình chiến đấu chống lại kẻ thù. Họ sẵn sàng từ bỏ, hy sinh những gì quý giá nhất tài sản, tính mạng để đổi lại danh tiếng, tiếng thơm lưu truyền với muôn đời. Qua đó đã làm sáng tỏ chân lí của thời đại Chết vinh còn hơn sống tiếp theo của tác phẩm, chân dung hình tượng người nghĩa sĩ nông dân hiện lên vừa mộc mạc, giản dị nhưng đồng thời cũng vô cùng anh dũng kiên cường. Trước khi giặc ngoại xâm đến họ vốn chỉ là những người nông dân vô cùng thuần phác, họ sống cuộc đời bình dị, “cui cút làm ăn” với biết bao lo toan, bộn bề của cuộc sống. Họ chỉ biết đến nơi làng quê nghèo, mà chưa từng biết đến thế giới ngoài kia. Quanh năm suốt tháng những người nông dân ấy bận rộn với công việc nhà nông “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm” còn những việc “tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”.Nhưng khi giặc xâm lược đến bờ cõi, đến sự bình yên vốn có, họ sẵn sàng đứng lên, trong họ có sự chuyển biến lớn về nhận thức và tình cảm. Trước hết đó là sự chuyển biến trong tình cảm. Họ đã nghe ngóng “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng” - tin giặc đến phong thanh họ đã nghe từ lâu. Không chỉ nghe họ còn ngửi thấy cả mùi đấu tranh “Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm” và cuối cùng họ đã nhìn thấy tận mắt sự xâm lược, độc ác của kẻ thù “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”.Đến lúc này họ đã có những chuyển biến rõ ràng về nhận thức, nếu ban đầu trong những người nông dân ấy vẫn còn có niềm tin vào triều đình, trông chờ vào quân đội “như trời hạn trông mưa” thì đến đây họ đã có nhận thức rõ ràng về nền độc lập và danh dự của tổ quốc; về kẻ thù – những kẻ đi xâm lăng thì không có lí do để tồn tại dưới ánh sáng chính nghĩa và hơn thế họ nhận thấy trách nhiệm của bản thân với đất nước “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”. Sự chủ động của họ thật oai phong, lẫm liệt đầy dũng trận đánh Tây họ không được trang bị binh pháp, chưa một ngày được rèn luyện võ nghệ, trang bị của họ hết sức thô sơ chỉ là những vật dụng sinh hoạt và lao động hàng ngày “Ngoài cật có một manh áo vải” “trong tay cầm một ngọn tầm vông” “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi”,… Ngược lại, địch được trang bị vũ khí tối tân, hơn nữa chúng còn được rèn luyện vô cùng tinh nhuệ “đạn nhỏ đạn to” “tàu đồng súng nổ”. Sự tương quan lực lượng hai bên đã thấy rõ, nhưng người nghĩa sĩ nông dân vẫn “đạp rào lướt tới”, “coi giặc cũng như không”, “xô cửa xông vào liều mình như chẳng có”, “Đâm ngang chém ngược làm cho mã tà ma ní hồn kinh”,… Không hề sợ hãi trước uy lực của kẻ thù. Bằng việc sử dụng liên tiếp các động từ mạnh, nhịp điệu nhanh, gấp gáp tác giả đã vẽ lên khung cảnh chiến trường ác liệt, đồng thời cũng ánh lên vẻ đẹp của người nông dân nghĩa sĩ hiên ngang, kiên cường, dũng cảm, bất vũ khí hiện đại của kẻ thù đã khiến biết bao nghĩa sĩ ngã xuống, gây nên niềm tiếc thương cho toàn thể dân tộc. Tiếng khóc của tác giả, của người thân và của toàn thể non sông dân tộc cho sự hi sinh anh dũng của những con người quả cảm, đó cũng là sự khóc thương cho số phận của người nhà, từ nay sẽ rơi vào vòng nô bộc của kẻ thù. Đồng thời tác giả cũng bộc lộ niềm cảm phục sâu sắc đến những người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”. Đoạn thơ không chỉ bày tỏ lòng tiếc thương trước những người đã mất mà còn khẳng định những điều bất tử với thời gian và hướng tới sự tiếp nối của thế hệ tương lai. Bởi vậy câu thơ có bi thương, xót xa nhưng không phải là bi lụy, yếu vần thơ cuối cùng đã khẳng định sự bất tử của những nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc trong sự tiếc thương và cảm phục của những người còn lại. Đồng thời biểu dương công trạng xả thân vì nghĩa lớn của các nghĩa sĩ. Đặc biệt trong câu “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ” vừa thể hiện được nỗi xót thương và lòng tưởng nhớ những người đã mất vừa tôn vinh công trạng của họ trong sự so sánh ngầm với triều ngữ mộc mạc, giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, đặc biệt ngôn ngữ đậm màu sắc Nam Bộ. Xây dựng hình tượng nghệ thuật – nghĩa sĩ nông dân chân thực, chi tiết, sinh động, lần đầu tiên người nông dân được xuất hiện đầy đẹp đẽ, trang trọng đến vậy. Kết hợp hài hoà các chi tiết thể hiện tình cảm cảm xúc của người viết, tăng chất trữ tình cho bài văn tế, đồng thời giúp dễ dàng đi vào lòng người ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã khắc họa thành công bức tượng đài bi tráng, bất tử về người nghĩa sĩ nông dân. Đồng thời qua tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu đã bày tỏ lòng cảm phục cũng như nỗi tiếc thương trước những công trạng và sự hi sinh bất khuất của họ.➜ Để viết được một bài phân tích hay và đầy đủ, bạn cùng đừng quên xem thêm những nội dung Bình giảng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc3. Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bài mẫu số 3“Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường... con mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì mới càng thấy sáng” đó là lời nhận xét của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng dành cho cuộc đời và thơ văn Đồ Chiểu. Nguyễn Đình Chiểu nhà thơ mù lòa nhưng tâm ông vẫn luôn sáng. Nhắc đến ông người ta không quên nhắc đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” tác phẩm tiêu biểu và thành công nhất cho thể loại văn tế để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả. Tác phẩm thể hiện lòng biết ơn, sự xót thương, cảm phục của tác giả dành cho những người nông dân - nghĩa sĩ Cần Giuộc anh dũng, quả cảm quên mình vì nước. Để phân tích bài văn một cách bao quát và độc đáo nhất ta chọn con mắt nhìn và điểm nhìn từ tinh thần yêu nước của người nông người nông dân họ vốn là những con người thuần phác của nhà nông nhưng nay vì lòng yêu nước thương nòi, lòng căm thù giặc sâu sắc mà họ trở thành những chiến binh anh dũng đã hy sinh trong trận chiến rằm tháng 11 năm 1861 - thời điểm cam go của những ngày đầu chống vì sao mà lại như vậy? Bởi “Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ” câu tứ tự hai vế tuy ngắn gọn nhưng khái quát được hoàn cảnh, tình thế của đất nước lúc bấy giờ. Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược nước ta chúng đánh chiếm, thi hành những chính sách áp bức bóc lột nặng nề đẩy nhân ta vào cảnh lầm than cùng cực. Câu văn trên đã cho ta thấy sự dã man của thực dân. Chúng có vũ khí tối tân, sức công phá dữ dội, súng nổ vang rền mặt đất. Điều đó khiến cho ta nhớ tới tội ác của giặc Pháp được nhà thơ tố cáo trong bài “Chạy giặc” “Tan chợ vừa nghe tiếng súng TâyMột bàn cờ thế phút sa tayBỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạyMất ổ bầy chim dáo dác bayBến Nghé cửa tiền tan bọt nướcĐồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”Tiếng súng vô tâm vô tình của quân giặc không bỏ sót một ai, không trừ một cảnh vật nào. Tất cả trở nên hoang tàn, xơ xác, lũng loạn sau “tiếng súng Tây”. Giặc thì như vậy chúng hiện đại hơn ta rất nhiều về trang thiết bị, về vật chất, số lượng binh lính còn ta chỉ có một tấm lòng, một truyền thống yêu nước mãnh liệt của người nông dân, của những con người Việt Nam. Nghệ thuật tiểu đối được sự dụng rất thành công đối rất chỉnh, rất chuẩn Mười năm - một trận, công vật chất - nghĩa tinh thần, chưa ắt còn danh nổi như phao - tuy là mất tiếng vang như mõ đã khẳng định tinh thần quyết tâm đánh giặc, làm nền để người nông dân xuất hiện. Tiếng khóc “hỡi ôi” quen thuộc mở đầu cho bài tế. Tiếng khóc lớn bày tỏ nỗi niềm đau xót, khóc thương cho linh hồn của những nghĩa sĩ đã hy sinh oanh thơ đã hồi tưởng và khắc họa lại hình ảnh những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc - những người nông dân thuần phác thôn quê có một tinh thần yêu nước quật khởi với cụm từ “Nhớ linh xưa”. Trước tiên họ là con người của ruộng đồng, của nông nghiệp, lam lũ mưu sinh “Cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó” đúng như Hoài Thanh nhận xét “Biết bao yêu thương trong một chữ cui cút”. Nhà thơ bày tỏ lòng thương cảm đối với con người hiền lành, dáng dấp vất vả đến tội nghiệp. Họ là những con người chất phác, thuần nông ngoài việc đồng áng “chỉ biết ruộng trâu”, không gian giao tiếp bó hẹp “ở trong làng bộ” với công việc của nhà nông “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm”. Nào họ có biết chi đến việc binh đao, giáo mác “Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung” rồi “tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ mắt chưa từng ngó”. Biết bao cái chưa biết ấy thế mà khi giặc xâm lăng nhũng nhiễu, triều đình chống cự yếu ớt họ can đảm bỗng chốc trở thành những người nghĩa sĩ anh hùng cứu đầu họ cũng trông cũng mong vào sự phản công của triều đình. Nhưng trước bối cảnh nguy kịch, triều đình bạc nhược để cho con dân của mình thốt lên “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Điển tích “tiếng phong hạc” lấy ở câu “Phong thanh hạc lệ, thảo mộc giai binh” để chỉ nỗi lo âu, hồi hộp, sợ hãi trước sự tấn công hung bạo của kẻ thù. Là con là dân họ chỉ biết mong chờ vào quan phụ mẫu của mình mong cho đất nước được bình yên để họ an tâm lập nghiệp nhưng chỉ là mòn mỏi trong chờ đợi mười tháng vời vợi. Và tất nhiên họ không thể dương con mắt nhìn đất nước rơi vào tay giặc. Trước đó họ chỉ ghét chúng bởi “mùi tinh chiên vấy vá” tức chỉ mùi hôi tanh của giặc Pháp với hình ảnh so sánh rất độc đáo “ghét thói mọn như nhà nông ghét cỏ”. Đó là một cái lẽ tự nhiên. Cách dùng từ thật sáng giá phù hợp tâm lí và suy nghĩ của người nông dân. Sự căm ghét được đẩy lên mức độ cao hơn khi “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp”, “Ngày xem ống khói chạy đen sì” mà “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”.Sự nhức nhối đến tận cùng, sự căm thù đến tột độ phải đến câu sau mới lên đến đỉnh cao “Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó”. Điển tích, điển cố, từ ngữ Hán Việt đặc biệt thành ngữ “treo dê bán chó” được tập trung để thể hiện ý chí quyết tâm chống giặc, con mắt tinh tường của nhân dân. Mặt nạ “khai hóa”, “truyền đạo” của giặc Pháp bị bóc trần phơi bày dã tâm cướp nước ta của thống và tinh thần của dân tộc cùng với tội ác của giặc Pháp đã thôi thúc họ đứng lên đấu tranh với tất cả tấm lòng của người con Việt. Nhà thơ cảm phục trước tinh thần và việc làm của họ điều đó đối lập hoàn toàn với thực lực của người nông dân. Họ không đợi ai đòi ai bắt mà tự nguyện chiến đấu “phen này ra sức đoạn kình, chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ” hàng loạt các động từ vị ngữ chỉ hành động thể hiện quyết tâm hăm hở, khí thế hào hùng tiếp nối hào khí Đông A của thời đại nhà Trần. Họ “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” chiến đấu khi trong tay là những vật dụng thô sơ, là những công cụ lao động thường ngày của nhà nông là manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay... Họ không phải dòng dõi nhà binh, không được tập luyện, không có tổ chức, không có hiệu lệnh, đội ngũ, kỷ luật, vũ khí lại thô những “cái không” ấy làm nổi bật lên “cái có” vô giá tiềm ẩn trong con người Cần Giuộc. Bởi họ có ý thức quyết tâm đánh giặc, có một tinh thần yêu nước không đổi, có một lòng căm thù giặc đến vô cùng. Điều đó đã làm nên sức mạnh vô song để họ đạp rào lưới tới, coi giặc cũng như không, không sợ đạn to đạn nhỏ mà liều mình xông vào như chẳng có, rồi kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho quân giặc khiếp sợ. Giọng điệu hào hùng, sục sôi qua cách ngắt nhịp, nhịp điệu gấp, dồn dập cùng với những động từ mạnh “đạp rào lưới tới”, “xô cửa xông vào”, “đâm ngang chém ngược” và một giọng văn đanh thép, hùng tráng để thể hiện cái hiên ngang, quật cường với thái độ căm thù giặc như muốn ăn gan, uống máu quân thương tiếc của nhà thơ dành cho những người nghĩa sĩ đã khuất được thể hiện bằng cụm từ mở đầu “Khá thương thay” ở đoạn ba. Sang đoạn kết từ “Ôi” xuất hiện bày tỏ lòng xót thương và lời cầu nguyện của người đứng tế. Giọng điệu bi ai trùng xuống đến thống thiết đau buồn. Tác giả thương xót cho những người dân phải chịu khó, chịu khổ “ăn tuyết nằm xương” làm “xiêu mưa ngã gió”. Ông khẳng định ý chí quyết tâm của dân tộc thà “về theo tổ phụ cũng vinh” chứ chẳng chịu khom lưng uốn gối làm nô sau tiếng khóc lớn, tiếng khóc ròng xót thương là mong muốn, ước nguyện của tác giả. Ông mong cho đất nước được thái bình, dân đen thoát cảnh lầm than cơ cực, mong cho dân tộc sạch bóng quân thù. Dù bị mù không thể ra trận chinh chiến nhưng Nguyễn Đình Chiểu vẫn cùng với các lãnh tụ nghĩa quân họp bàn bày mưu đánh giặc. Đến khi giặc đánh chiếm Nam Kì ông ở lại Ba Tri chúng ra sức dụ dỗ, mua chuộc ông nhưng con người kiên trung ấy khảng khái chối từ, giữ trọn tấm lòng son với dân tộc.“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là bài văn thành công nhất cho thể loại văn tế của Nguyễn Đình Chiểu. Bài văn đã có những đóng góp mới mẻ nền văn học dân tộc cùng với nghệ thuật đắt giá được sử dụng tài tình. Thứ nhất những đóng góp mới hình tượng người nông dân Việt Nam lần đầu tiên đi vào trong văn học với những nét thuần phác nhất có điệu bộ, dáng dấp, tính cách, cảm xúc và tình cảm rõ ràng. Đề tài gắn liền với thực tế mang tính thời sự lúc bấy giờ của đất nước. Đáng chú ý là sự chuyển biến của tư tưởng trung quân theo hướng gia tăng chất hiện thực, giảm bớt “khẩu khí” lí tưởng. Tác phẩm đã đưa văn học giai đoạn này trở thành vũ khí đấu tranh chống quân thù, chống tư tưởng đầu hàng và bọn phản động tay sai bán hai là những thủ pháp nghệ thuật đắt giá được sử dụng thàng công. Bài văn tế được viết theo thể phú Đường luật có vần, có độc vận. Từ ngữ biểu cảm trực tiếp, gọi tên các trạng thái đa dạng như buồn thương, sầu tủi khi thì tự hào. Hệ thống các từ láy gợi hình gợi cảm được dùng linh hoạt Cui cút, leo lét, não nùng, dật dờ,... Ngôn ngữ bình dị, đậm màu sắc thôn dã của vùng đất Nam Bộ Cui cút, vấy vá, rơm con cúi, dao phay... Kết hợp tài tình những điển tích điển cố, ước lệ tượng trưng như Tiếng phong hạc, mùi tinh chiên, mối xa thư, chém rắn đuổi hươu... Nghệ thuật tiểu đối đặc trưng của thể loại văn tế được thể hiện rõ nét qua các câu văn cùng với kết cấu ngôn ngữ phủ định trùng điệp “Nào đợi/ chẳng thèm/ nào phải/ chẳng qua/chẳng đợi/không chờ...” nghệ thuật tương phản hai cấp độ được sử dụng thành công là “Hỏa mai... gươm đeo.../ Chi nhọc quan quản... chẳng sợ thằng Tây... / Kẻ đâm ngang... bọn hè trước... súng nổ”. Giọng điệu linh hoạt lúc thì hùng oai, sục sôi khi diễn tả cái hiên ngang, lúc thì bi ai, thống thiết khi nói về sự mất mát, đau những điều đó đã khắc họa được hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc - những con người anh dũng dám hy sinh vì nghĩa lớn với một lòng nồng nàn yêu nước “Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Tinh thần ấy, con người ấy trở thành hình tượng đẹp, đáng nể phục và là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Việt Nam. Nếu như trước khi thực dân Pháp xâm lược thơ văn của Đồ Chiểu chủ yếu là thể loại truyện thơ dài với nhân vật tiêu biểu là Lục Vân Tiên để truyền bá đạo lí và tư tưởng làm người thì ở giai đoạn sau năm 1858 thơ văn Đồ Chiểu là lá cờ đầu cho văn thơ chống Pháp đầu thế kỉ XIX, cổ vũ lòng yêu nước. Bài văn tế đã góp phần để Nguyễn Đình Chiểu ngôi sao sáng thực sự tỏa sáng theo cách của riêng mình trong bầu trời văn nghệ của dân tộc.➜ Xem thêm những bài văn mẫu cảm nhận bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc4. Phân tích bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bài mẫu số 4Nguyễn Đình Chiểu xuất thân trong một gia đình nhà nho. Năm 1846 ông về Gia Định mở trường dạy học bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân và làm thơ. Khi giặc Pháp dụ dỗ ông vẫn giữ trọn lòng mình thủy chung son sắc với đất nước và nhân dân. Thơ văn của ông thấm nhuần lý tưởng đạo đức cao đẹp nhân nghĩa với những con người sống cao đẹp nhân hậu thủy chung biết giữ gìn nhân cách ngay thẳng cao cả dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực bạo tàn cứu nhân độ "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" là một tác phẩm như thế. Bài văn là tiếng khóc từ đáy lòng của tác giả và tiếng khóc lớn của nhân dân trước sự hi sinh của những anh hùng. Văn tế là một loại văn thường dùng trong khi đọc tế cúng người chết nó có hình thức tế - tưởng. Bài văn tế có các phần Lung khởi là cảm hứng khái quát về người chết, Thích thực hồi tưởng về công đức của người chết, Ai vãn than tiếc người chết và phần kết nêu ý nghĩa và lời mời của người cúng tế đối với linh hồn người chết. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có đủ bốn phần như đầu bài thơ là một lời than"Hỡi ôi! Súng giặc đất rền lòng dân trời tỏ" Tiếng than vang lên mà nghe sao đau thương đến thế. Tiếng than ấy cho ta một ý nghĩ về một cảnh tang thương chết chóc là cảnh chiến tranh tàn khốc với những người đã bị tử trận trên chiến trường. Ông trời có thấu hiểu lòng người, có thấu hiểu được nỗi tang thương đau xót trong lòng những người thân nhân của những người dân đã tử trận. Tiếng khóc bi tráng của tác giả xuất phát từ rất nhiều nguồn cảm xúc. Đó là thái độ cảm phục và niềm thương xót vô hạn của tác giả đối với người nông dân nghĩa sĩ. Các chi tiết" xác phàm vội bỏ"; "nào đợi gươm hùm treo mộ";" tấc đất ngọn rau ơn Chúa", "tài bồi cho nước nhà ta"; "quan quân khó nhọc","ăn tuyết nằm sương"; "đồn lũy tan tành" thể hiện niềm thương cảm và xót thương ấy một lần nữa khẳng định nghĩa binh chỉ là những người dân thường, nhưng sẵn sàng dấy binh vì một lòng yêu cạnh đó tác giả miêu tả hình tượng người chiến sĩ với vẻ đẹp của hình thức bên ngoài "chẳng qua là dân ấp dân làng", "ngoài cật có một manh áo vải", "trong tay cầm một ngọn tầm vông". Đó là những hình ảnh của những người dân chân lấm tay bùn cơm không đủ no áo không đủ ấm. Còn cuộc sống hàng ngày của họ thì được tác giả miêu tả bằng những câu văn mộc mạc dễ hiểu không mấy cầu kì về câu chữ, họ hiện lên là những người "cui cút làm ăn toan lo nghèo khó", "chưa quen cung ngựa", "việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy tay vốn quen làm; tập khiên tập súng tập mác tập cờ mắt chưa từng ngó".Từ đó cho ta một cái nhìn toàn diện đầy đủ nhất về người nông dân. Họ vốn là những người dân lao động bình thường và họ cực kì lương thiện không bao giờ muốn xảy ra chiến tranh, họ không đi cướp bóc không muốn đi xâm chiếm nước khác để làm giàu cho mình mà họ mãn nguyện về cuộc sống khốn khó nhưng hòa bình của mình. Có chăng ước mơ to lớn nhất của họ chính là đủ cơm ăn áo mặc. Thế nhưng khi tổ quốc lâm nguy súng giặc nổ vang rền trời đất và quê hương sứ xở thì họ lạ có một tinh thần kháng chiến sục sôi."Súng rền" cho thấy bọn giặc đã sử dụng những vũ khí rất tối tân chứ không phải là gậy gộc, là khiên là mác nữa cho thấy ở đây có một khoảng cách xa về vũ trang của cả hai bên. Nhà văn đã miêu tả được vẻ đẹp của người dân yêu nước sao mà giản dị đến thế "Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng trông tin quan trường như trời hạn trông mưa mùi chinh chiến vấy vá đã ba năm ghét thói mọi như nhà hồn ghét cỏ"."Bữa thấy bòng bong che trắng lốp muốn tới ăn gan ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ". Chính vì thế mặc dù dân ấp dân làng, ngòai cật có một manh áo vải trong tay cầm một ngọn cầm vông nhưng họ vẫn sẵn sàng tự nguyện xả thân vì nghĩa lớn "hỏa mai đánh bằng rơm con cúi cũng đốt xong nhà dạy đạo kia gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay cũng chém rớt đầu quan hai họ", "chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không nào sợ thằng tây bắn đạn nhỏ đạn to xô cửa xông vào liều mình như chẳng có" và thế là "kẻ đâm ngang người chém ngược làm cho tà mã ma ní hồn kinh bọn hè trước lũ ó sau trối kệ tàu sắt tàu đồng súng văn đã thành công trong khi khắc họa hình tượng nghĩa quân Cần Giuộc. Các từ miêu tả nguồn gốc xuất thân ngoại hình và hành động của người nghĩa sĩ nông dân cho thấy họ chỉ là những dân bình thường chất phác chăm chỉ nhưng khi nước nhà có giặc họ tự nhận về mình trách nhiệm phải bảo vệ đất nước sẵn sàng hi sinh vì nước. Cách thể hiện hình tượng người nghệ sĩ rất tỉ mỉ từ trang bị thô sơ hành động dũng cảm nguyện xả thân mình để bảo vệ đất Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngắn gọn bài mẫu số 5Có lẽ với những người yêu thích văn chương, đề tài người nông dân đã quá đỗi quen thuộc và trở thành chủ đề “chọn mặt gửi vàng" của không ít “cây bút". Chúng ta đã có một anh nông dân mất hết “nhân hình lẫn nhân tính" khi bị xã hội đẩy đến bờ vực trong “Chí Phèo" – Nam Cao. Hay là hình ảnh chị Dậu “vùng chạy ra ngoài giữa lúc trời tối đen như mực, đen như cái tiền đồ của chị vậy!” trong “Tắt đèn" của Ngô Tất Tố. Thế nhưng, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam một tượng đài sừng sững, hùng tráng về người nông dân đã được Nguyễn Đình Chiểu chắp bút qua “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc". Bên cạnh việc khắc họa hình ảnh bi tráng, đầy hi sinh của người nông dân chống Pháp thì bài tế còn là nỗi lòng, nỗi xót thương của tác giả cho “những anh hùng áo vải".Bài tế ra đời trong hoàn cảnh thực dân Pháp đang “tung hoành" ở nước ta. Sau khi chiếm được thành Gia Định, Pháp bắt đầu đánh chiếm ra các vùng gần đó như Tân An, Cần Giuộc, Gò Công... Ngày 16/12/1861 do quá căm phẫn, những người nông dân Cần Giuộc đã đứng lên tập kích đồn Pháp tiêu diệt được một số quân của Pháp. Nhưng xót xa thay, có khoảng mười lăm nghĩa sĩ đã anh dũng hi sinh. Xúc động trước sự ra đi này, Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" nhằm đọc truy điệu lần cuối cho những anh hùng dũng đầu bài tế, tác giả đã lên tiếng tố cáo tội ác của thực dân“Hỡi ôi! Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ...” Xung quanh đâu đâu cũng có tiếng súng, âm thanh ấy làm rung động cả một vùng đất. Nhưng từ trong gian nguy người ta mới thấy được bản lĩnh, đức tính của những người nông dân bình dị. Cái họ làm đã được trời đất “chứng giám" và được lịch sử ghi công với hành động “một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ". Chỉ với mấy dòng đầu tiên, tác giả đã trực tiếp lên tiếng ngợi ca cho những hành động anh hùng của người nông dân. Họ sẵn sàng hi sinh bản thân mình những mong đánh đuổi kẻ thù xâm việc khẳng định ý nghĩa trong sự hi sinh của những người nông dân Cần Giuộc. Tác giả chuyển sang miêu tả hình ảnh của họ trong cuộc sống sinh hoạt, làm việc đời thường và đến lúc họ đã trở thành những anh hùng đánh giặc, lập côngNhớ linh xưaCôi cút làm ăn; toan lo nghèo khó"Họ chỉ là những người nông dân chân chất, hiền lành, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" suốt ngày quanh quẩn với con trâu con bò, với rặng tre làng. Những người nông dân ấy trước giờ chỉ quan tâm đến công việc làm ăn, chỉ mong “kiếm kế sinh nhai". Họ chỉ biết “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;” vì đó là những công việc gắn bó với người nông dân từ ngày này qua ngày khác. Chứ còn việc binh đao “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung" và đối với họ việc “Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó”. Có thể thấy những người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu chỉ quen với công việc đồng áng, chưa hề có sự “quen tay" với súng đao. Dù bản thân không hề là những binh lính rành nghề, cũng không phải là người có thể điều khiển vũ khí tốt. Thế nhưng, những anh hùng ấy vẫn hiên ngang tôi luyện, đứng lên chống giặc. Tất cả những hành động của họ đều xuất phát từ sự căm phẫn tội ác của giả cũng rất tinh tế khi nêu ra một trong những nguyên nhân khác thôi thúc những người nông dân đứng lên là vì “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn mong mưa”. Sự yếu đuối, nhu nhược của triều đình khi không có bất một hành động nào thể hiện sự phản kháng đối với tội ác của giặc đã buộc lòng nông dân Cần Giuộc “Nào đợi ai đòi, ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm chốn ngược, chốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”.Với biện pháp liệt kê, tác giả đã cho thấy ý chí chiến đấu quật cường của người nông dân. Họ sẵn sàng vùng dậy đấu tranh chứ không hèn nhác chịu “trốn chui trốn lũi". Nếu như với hình ảnh của những người nông dân trước đây “bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa" – có phần yếu đuối và tinh thần bị bắt buộc thì ở đây ta bắt gặp hình ảnh những người nông dân hoàn toàn tự nguyện, tự giác đấu tranh chứ không có bất cứ một thế lực nào khác điều khiển. Đây là một trong những lí do làm cho vẻ đẹp của người nông dân Cần Giuộc khác với những người nông dân còn thể thấy những người nông dân trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” không những phải luyện tập binh đao để ra trận, mà ở họ sự hy sinh còn thể hiện trong cách vượt lên hoàn cảnh ngặt nghèo. Độc “manh áo vải” nhưng họ nào đợi được trang bị mọi thứ bảo hộ, cứ thế mà lên đường chiến đấu“Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi đeo bao tấu bầu ngòi;Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu nón gõ.” Tác giả Nguyễn Đình Chiểu dẫn người đọc từ từ khám phá các tính cách bên trong con người nông dân. Nếu ở trên ta cảm phục trước ý chí sắt đá, tinh thần tôi luyện để lên đường chiến đấu của người nông dân thì phần tiếp theo tác giả tái hiện chân thực cái hào khí sôi sục khi chiến đấu với giặc như thể tinh thần “nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. “Tinh thần yêu nước của nhân dân ta” – Hồ Chí Minh.“Chi nhọc quan quản trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng cóKẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc tàu đồng súng giả sử dụng phép liệt kê, liên tiếp đưa ra các hành động chống giặc của người nông dân “trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới” rồi “đâm ngang, chém dọc” làm cho nhịp bài tế nhanh, khẩn trương, khấp rút như chính các thao tác mà nghĩa sĩ đánh giặc. Âm điệu bài thơ dần trở nên hào hùng, dồn dập như trận cuồng phong làm rung chuyển cả một bãi chiến. Tinh thần chiến đấu càng ngày càng sôi sục và dâng cao lại tình hình lịch sử lúc bấy giờ, khi thực dân tiến đánh nước ta, triều đình Huế nhu nhược, yếu hèn không có bất cứ thái độ nào để đối phó với giặc. Mặc nhiên đầu hàng, bám víu vào cái ngôi vua của mình, không màng tới trọng trách giữ gìn đất nước. Nông dân cả nước nói chung và những “chiến sĩ” Cần Giuộc nói riêng đã tự mình đứng lên đòi lại quyền tự do, tự mình bảo vệ lấy tấc đất của mình. Tuy nhiên, sự bất cân xứng về lực lượng giữa ta và địch đã làm cho một phần nghĩa sĩ ngã xuống. Dẫu thế, cái “ngã” của họ chính là tư thế của những anh hùng đã dũng cảm, quyết tâm đuổi giặc xâm lăng bảo vệ tổ tế này chính là nỗi xót thương mà Nguyễn Đình Chiểu không chỉ dành cho những người đã khuất mà cùng với đó là sự cảm thông, chia sẻ cho những gia đình có “vị anh hùng” buộc phải “dừng chân”“Đau đớn bấy! mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;Não nùng thay! vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.”Còn gì đau đớn hơn khi mẹ xa con, chồng xa vợ! Có nỗi đau nào bằng khi mất đi người thân. Những nghĩa sĩ Cần Giuộc càng anh hùng, quả cảm bao nhiêu thì người đọc lại xót thương, căm phẫn Pháp bấy nhiêu. Những câu cảm thán mà tác giả sử dụng như xé toạc bầu trời ấy, là tiếng hét ai oán cho những con người vì độc lập dân tộc. Nguyễn Đình Chiểu có cách so sánh rất hay khi “mẹ già” bây giờ như “ngọn đèn khuya leo lét”.Ở tuổi xế chiều mỗi người mẹ đều có đứa con chăm sóc, bảo vệ thì những người mẹ Cần Giuộc chỉ biết khóc con. Những người mẹ ấy leo lắt, đói hôm cũng không biết nương tựa vào ai vì con còn đâu nữa mà trông. Những người “vợ yếu” thì như “cơn bóng xế dật dờ trước ngõ” vì tìm đâu ra trụ cột để mà dựa vào. Họ lao đao, chao đảo vì bỗng nhiên mất đi một phần rất quan trọng trong cuộc sống. “Dật dờ” cũng có thể là sự ngóng trông, mong đợi chồng về nhưng nào đâu nữa! Những người anh hùng ấy đã ngã xuống cho sự nghiệp đánh đuổi giặc Pháp, cho lí tưởng bảo vệ non sông. Hai câu thơ trên nghe sao mà ai oán, nghe sao chua xót cho những nghĩa sĩ Cần Giuộc!Cảm phục, xót thương cho những linh hồn của nghĩa sĩ tác giả đã có những giây phút lắng đọng khi đọc bài tế. Đến cuối cùng tác giả vẫn không nguôi về những hành động dũng cảm mà các nghĩa sĩ đã làm cho mảnh đất của mình, cho người dân của họ.“Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;Cây hương nghĩa sĩ thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.”Bắt đầu bài tế cũng là những anh hùng hào kiệt, đến cuối bài tế vẫn sống mãi với non sông. Những “chiến sĩ Cần Giuộc” quả là bức tượng sống cho hình ảnh những con người đời thường nhưng sẵn sàng đứng lên cho sự an nguy của tổ quốc. Hình ảnh “chết vinh còn hơn sống nhục” là biểu tượng vàng son cho khí tiết hào hùng, oanh liệt của người nông cách sử dụng thể loại tế, cùng với việc sử dụng ngôn ngữ bình dị, dân dã kết hợp giọng điệu xót thương, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa nên bức chân dung về những người “chiến sĩ Cần Giuộc” dũng cảm quên mình. Ở họ sự thiếu thốn khắc khổ, cái khó khăn trong lúc luyện tập vũ khí không làm chùn bước chân của những nghĩa sĩ mà trái lại tinh thần sôi nổi, ý chí tự nguyện cùng quyết tâm đánh đuổi quân thù đã đúc kết lại làm nên những trang anh hùng. Dù kết thúc, chúng ta đã có một phần nghĩa sĩ ngã xuống nhưng chính cái hi sinh ấy lại là tiếng nói cao cả cho những con người dù “thấp cổ bé họng” vẫn có quyền lên tiếng cho chính bản thân dẫn chi tiết soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngắn gọn nhấtSơ đồ tư duy phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcXem thêm Sơ đồ tư duy Văn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcKiến thức mở rộngSơ lược về thể loại văn tế- Văn tế còn có tên gọi là tế văn, kì văn hoặc chúc văn là một thể loại trong văn học Việt Nam. Thể loại này được dùng nhiều trong phú, cáo, văn tế...- Văn tế nói chung là loại văn đọc khi tế, cúng người chết trong một số trường hợp đặc biệt cũng dùng để tế lễ người sống; bởi vậy nó có hình thức tế - Về hình thức, văn tế có thể là văn vần, văn xuôi và biền văn. Tuy nhiên, do văn tế có thể được viết theo nhiều lối, cho nên tùy theo người viết chọn thể loại nào đấy, sẽ phải tuân thủ tính quy định của thể loại cảnh sáng tác bài Văn tế nghĩa sĩ Cần GiuộcNăm 1859, giặc Pháp tấn công Gia Định, nhân dân Nam bộ đứng lên chống giặc. Đêm 14 - 12 - 1861, trận Cần Giuộc nổ ra gây nhiều tổn thất lớn cho giặc, nhưng cuối cùng quân ta cũng thất bại. Hai mươi nghĩa quân đã hi sinh trong trận chiến tấn công đồn Cần Giuộc đêm 16 - 12 - 1861. Tuần phủ Gia Định nhờ Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế này để tỏ lòng tiếc thương những người đã hi sinh, ghi nhận công lao của những người nông dân áo vải trở thành những anh hùng số nhận định về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc- "Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ, vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước... Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca của người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang"...Phạm Văn Đồng- "Với bài văn tế này, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, nhân dân được ca ngợi như những người anh hùng. Đây chính là đỉnh cao nhất về nội dung và nghệ thuật trong sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu"...Lê Chí Dũng-/-// Trên đây là tuyển chọn top 5 bài văn phân tích tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã được chúng tôi sưu tầm và biên soạn. Chúc các bạn sẽ viết được một bài văn hay, đạt điểm cao. Đừng quên tham khảo thêm những bài làm mẫu khác tại thư viện văn mẫu lớp 11 của Đọc Tài Liệu. "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" là một tác phẩm văn chương có tính lịch sử cao và mang đến cho độc giả một cái nhìn sâu sắc về tinh thần và sự hy sinh của những người nghĩa sĩ. Dưới đây là bài phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất, mời bạn đọc cùng đón xem. Mục lục bài viết 1 1. Dàn ý phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Mở bài Thân bài Kết bài 2 2. Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất 3 3. Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc chọn lọc Mở bài – Giới thiệu tác phẩm và tác giả. – Giới thiệu vấn phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Thân bài – Tác phẩm văn học này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam. Ngôn ngữ của tác giả không chỉ đơn thuần là giản dị và dân dã, mà còn có sức mạnh gợi cảm và giá trị thẩm mĩ cao, tạo nên một tác phẩm vô cùng sâu sắc và chân thật. – Tác giả sử dụng các từ ngữ và lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân Nam Bộ để tạo nên một tác phẩm đầy ắp những hình tượng nghệ thuật và liên tưởng so sánh đậm chất Nam Bộ. – Những liên tưởng này được sử dụng rất thành công, giúp tác giả khắc họa được vẻ đẹp và sự tươi vui của cuộc sống Nam Bộ. Lối ví von so sánh của tác giả cũng rất phù hợp với cuộc sống của người làm ruộng, rất phù hợp với nếp cảm và nghĩ của nông dân. – Khi mô tả hình ảnh của người nông dân nghĩa sĩ, tác giả không sử dụng bút pháp ước lệ rất phổ biến trong văn học trung đại mà hoàn toàn sử dụng bút pháp hiện thực. Nhiều thủ pháp nghệ thuật được sử dụng rất thành công, bao gồm biểu tượng súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ, so sánh trông tin quan như trời hạn trông mưa, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ, đặc tả đạp rào lướt tới, xô cửa xông vào, và đặc biệt là phép đối, đạt hiệu quả nghệ thuật cao. Phép đối từ ngữ và đối ý được sử dụng rộng rãi, giúp tác giả khắc họa vẻ đẹp bi tráng của người nông dân nghĩa sĩ. – Giọng văn của tác giả thay đổi linh hoạt, phù hợp với những nội dung được biểu đạt và trạng thái cảm xúc, trên nền âm hưởng chủ đạo là thống thiết. Khi miêu tả cuộc sống khó khăn của người nông dân, giọng văn bùi ngùi và trầm lắng cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở làng bộ. Tuy nhiên, khi ca ngợi những người nghĩa sĩ xả thân vì nước, lời văn trang trọng và tự hào Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời, ai cũng mộ. – Giọng điệu của bài văn thay đổi tùy theo nội dung, từ tiếng khóc đau thương đến lời khẳng định ngợi ca mang âm hưởng sử thi, tạo nên một tác phẩm giàu cảm xúc và vẻ đẹp bi tráng. Tác phẩm này là một bức tranh đẹp về cuộc sống và con người, tỏa sáng vẻ đẹp và sức mạnh của văn học Việt Nam. Kết bài – Đánh giá khái quát lại vấn đề nghị luận. – Liên hệ cảm nhận bản thân. 2. Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là một tác phẩm văn chương có tính lịch sử cao và mang đến cho độc giả một cái nhìn sâu sắc về tinh thần và sự hy sinh của những người nghĩa sĩ. Tác phẩm này là một lời tri ân đối với những anh hùng vô danh đã đánh đổi tất cả để bảo vệ độc lập dân tộc. Những nhân vật trong tác phẩm không chỉ là những người anh hùng, mà còn là những con người thật sự, với những đức tính cao đẹp, những thử thách và khó khăn trong cuộc sống. Tác giả Nguyễn Đình Chiểu không chỉ miêu tả những nét đẹp tâm hồn của những anh hùng mà còn kết hợp rất nhiều những biện pháp nghệ thuật độc đáo và đặc sắc để tạo ra một tác phẩm văn chương tuyệt vời. Tác phẩm được xây dựng từ những tín hiệu nghệ thuật tiêu biểu, thể hiện qua từng câu thơ, câu văn mang tính độc đáo và sự mới mẻ. Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm vừa là hình ảnh được xây dựng xuất chúng, vừa là thành quả lao động nghệ thuật của một cây bút tài ba, giàu lòng nhân ái. Nghệ thuật trong tác phẩm được thể hiện qua giọng điệu trữ tình, xót thương cho những người nghĩa sĩ nông dân oai hùng, quả cảm, ngôn từ gần gũi, giản dị mang âm hưởng Nam Bộ và thủ pháp xây dựng câu văn biền ngẫu đã được tác giả phối hợp, tạo nên bản anh hùng ca chói lòa, tri ân những người anh hùng đã xả thân vì nước. Các hình ảnh biểu trưng riêng biệt và các biện pháp tu từ nhuần nhuyễn, linh hoạt cũng được sử dụng để tạo ra tác phẩm văn chương đầy sức sống và ấn tượng đối với độc giả. Bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu là một tác phẩm văn học đặc sắc, với nhiều yếu tố nghệ thuật độc đáo. Nếu xét về khía cạnh nghệ thuật, không thể không nhắc đến cách sử dụng câu từ trong tác phẩm. Nguyễn Đình Chiểu đã tận dụng ngôn từ một cách thông minh để thể hiện sự tôn kính trong ngày lễ tế và sự tôn trọng đến những người đã hi sinh. Những thán từ như “Hỡi ôi”, “Khá thương thay”, “Ôi thôi thôi!”, “Ôi!”, “Đau đớn bấy”, “Não nùng thay!”… được sử dụng rải rác nhằm bộc lộ cảm xúc đạt tới đỉnh điểm của nhà văn, lại có tác dụng khơi gợi sự đồng cảm từ người nghe. Tác giả cũng sử dụng các từ ngữ đặc biệt mang tính địa phương như “bao tấu”, “bầu ngòi”, “chi nhọc”, “hai hàng lụy”,… để tạo nên sự tự nhiên và không hô hào sáo rỗng trong bài văn. Ngoài ra, tác giả cũng vận dụng những câu nói khai thác đời sống giản dị đời thường, chắt lọc trở thành những câu nói có giá trị nghệ thuật. Việc khai thác chất liệu hiện thực không khiến tác phẩm trở thành những câu thoại khẩu ngữ thường nhật, thay vào đó là hệ thống câu văn biểu cảm. Cùng với giọng văn oai hùng, bi tráng, nghệ thuật sử dụng ngôn từ đã khiến bài Văn tế trở nên vần điệu, lay động hơn. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng bao trùm lên toàn bộ câu chuyện là âm hưởng anh hùng ca bi tráng, cơ ngợi công ơn lớn lao của những người lính nhân dân. Nguyễn Đình Chiểu không quên tỏ bày nỗi xót xa đến những mất mát đau thương mà những người thân của họ phải chịu đựng. Trong tác phẩm, Nguyễn Đình Chiểu đã dùng giọng văn mang khí chất anh hùng quả cảm, nêu lên quyết tâm ngùn ngụt của người lính Cần Giuộc. Tuy lực lượng vũ trang chênh lệch cả về trang thiết bị lẫn số lượng nhưng những người chiến sĩ Cần Giuộc không lấy đó làm lý do nản chí, chùn bước. Tác giả đã tạo ra không gian trận đấu mở ra trước mắt người đọc với những chuỗi hành động mạnh mẽ liên tiếp thể hiện tinh thần sắt đá, quật cường. Những câu văn giàu cảm xúc như “Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều”, “Não nùng thay! Vợ yêu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ” hay các câu ca dao tục ngữ được lồng ghép khéo léo như “tấc đất ngọn rau ơn chúa”, “bát cơm manh áo ở đời”,… cũng đã được tác giả lồng ghép vào tác phẩm để tăng thêm giá trị nghệ thuật. Tóm lại, Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên một tác phẩm văn học đặc sắc với sự kết hợp tinh tế giữa ngôn từ, câu nói và tình tiết. Các yếu tố nghệ thuật độc đáo của tác phẩm đã khiến cho bài văn tế trở nên đặc sắc hơn. 3. Phân tích giá trị nghệ thuật đặc sắc bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc chọn lọc Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng thành công bức tượng đài về những người anh hùng đánh giặc. Bức tượng đó đã truyền tải được giá trị nghệ thuật đặc sắc của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, làm cho nó trở thành một tác phẩm bất tử trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam. Tuy nhiên, bức tượng đài này còn mang trong nó một giá trị rất quý giá khác, đó là tinh thần ngoan cường và lòng quyết tâm chiến đấu của những người nông dân mặc áo nghĩa quân. Điều này xuất phát từ phẩm chất cao cả của họ, vốn được đào tạo từ nghề nông, mang trong mình tính cần cù, giản dị và chất phác. Họ có “đôi bàn tay vàng” trong nghề nông, làm việc với sự quen thuộc của việc cuốc, cày, cấy tay. Họ có đôi mắt hiền lành, phản ánh vẻ đẹp hòa bình của cuộc sống thường nhật. Nhưng đối với quân xâm lược, lòng căm thù của họ thật sâu sắc, do mùi tinh chiến đã vấy vá trong ba năm qua. Tuy nhiên, tinh thần và lòng quyết tâm chiến đấu của họ lại rực rỡ hào quang của chân lý và chính nghĩa, được thể hiện qua những đường nét đẹp, khỏe khoắn và hào hứng trên bức tượng đài. Điểm nổi bật của bức tượng đài này là sự độc đáo và tinh tế trong việc tái hiện tinh thần ngoan cường của những người nông dân yêu nước. Vẻ bề ngoài của họ rất đặc thù, với một cật một manh áo vải và các công cụ thô sơ, lạc hậu như hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, đoạn gậy gộc và một ngọn tầm vông trong tay. Những chi tiết này đã tạo ra một bức tranh về những người anh hùng vô danh “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”, đầy tinh thần chiến đấu và quyết tâm giữ gìn đất nước, và trở thành một tác phẩm nghệ thuật mang tính biểu tượng đối với nền văn hóa Việt Nam trong suốt nhiều thế kỷ. Những người nông dân yêu nước đã hy sinh trong trận đánh ngày 16-12-1861 tại Cần Giuộc, như hàng trăm, hàng ngàn người khác đã hy sinh trong các cuộc khởi nghĩa kháng Pháp cuối thế kỉ XIX. Tuy nhiên, bức tượng đài hào hùng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đã làm cho họ trở nên bất tử. Họ sẽ sống mãi trong lâu đài văn chương, văn hóa của nhân dân. Nguyễn Đình Chiểu, một nhà văn và nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam, đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để tưởng nhớ những anh hùng đã hy sinh vì đất nước. Đây là một tác phẩm nghệ thuật vô cùng đặc sắc, tạo được sức hút đặc biệt đối với người đọc. Một giá trị nghệ thuật đặc sắc khác của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là nó thực sự trở thành khúc ai ca bi tráng biểu hiện tấm lòng ngưỡng mộ và tiếc thương của cả một dân tộc đối với những người nông dân yêu nước, những nghĩa sĩ, những anh hùng vô danh này. Nguyễn Đình Chiểu đã viết những câu văn thật xúc động khi khóc thương cho họ. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo. Ngữ điệu câu văn đọc lên nghe như có tiếng khóc nức nở, tắc nghẽn. Lời khóc tắc nghẽn nên nó mất mát các từ, các tiếng. Đáng ra đầy đủ là phải Nước mắt khóc người anh hùng lau chẳng hết được có nghĩa là khóc và nước mắt chảy mãi, chảy hoài… Tiếc thương và ngưỡng mộ, Nguyễn Đình Chiểu muốn các nghĩa sĩ không bao giờ bị quên. Ông đã vận dụng cả tiềm thức và tâm linh thể để sáng tạo nên những hình tượng có tính siêu hình, đặng nói cái lẽ vĩnh hằng, bất tử của những người nghĩa sĩ Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh. Tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc cũng là tình cảm của cả một thời đại. Vua Tự Đức đã từng rung động với bài văn tế và cho in phổ biến nó trong các tỉnh ở Nam Bộ. Đặc biệt, bài viết này còn giúp tôn vinh những người anh hùng đã hy sinh cho đất nước và góp phần bảo vệ sự độc lập của nền văn hóa Việt Nam. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một tác phẩm bất hủ sẽ trường tồn với lịch sử Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Những câu thơ của Mai Am công chúa cũng đã động viên và khích lệ tinh thần của nhân dân Việt Nam Bồi hồi đọc mãi bản văn ai Phách cứng văn hùng cảm động thay…… Quốc ngữ một thiên truyền mãi mãi Còn hơn xây cất mộ khô hài. Các vị hoàng tộc triều Nguyễn cũng đồng sáng tạo với Nguyễn Đình Chiểu để mang lại một tác phẩm văn học đặc sắc, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam. Tóm lại, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một tác phẩm văn học đặc sắc và bất hủ của người Việt Nam, đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam. Tóm tắt bài Tìm hiểu chung a. Hoàn cảnh sáng tác Năm 1859, giặc Pháp tấn công Gia Định, nhân dân Nam bộ đứng lên chống giặc. Đêm 14/12/1861, trận Cần Giuộc nổ ra gây nhiều tổn thất lớn cho giặc, nhưng cuối cùng quân ta cũng thất bại. Tuần phủ Gia Định nhờ tác giả viết để tỏ lòng tiếc thương những người đã hi sinh. Như vậy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không đơn thuần là sản phẩm của nghệ thuật cá nhân mà còn là tác phẩm mang tính quốc gia, thời đại. b. Thể loại Bài văn tế được viết theo thể phú luật Đường với bố cục 4 phần c. Bố cục Câu 1 -2 lung khởi Hoàn cảnh chiến đấu và hi sinh của nghĩa quân Câu 3 - 15 thích thực Cuộc đời, cảnh chiến đấu anh dũng của nghĩa quân Câu 16 - 23 ai vãn Sự hi sinh cao quý của người nghĩa quân Câu 24 - 30 kết Niềm tự hào và thương tiếc về những người đã hi sinh Đọc - hiểu văn bản a. Lung khởi Câu 1 phép đối súng giặc >< không quen tập súng, mác, cờ, cung ngựa → Họ là những người nông dân hoàn toàn xa lạ với việc binh đao. Khi giặc Pháp xâm lược Tình cảm Lo sợ phập phồng, trông chờ ở triều đình Căm ghét quân giặc "muốn tới ăn gan", "muốn ra cắn cổ", "ghét....như nhà nông ghét cỏ" Nhận thức "một mối sa thư đồ sộ....theo dê bán chó" → Ý thức trách nhiệm đối với non sông, đất nước. Hành động Tự nguyện đứng lên đánh giặc Trong trận công đồn Hoàn cảnh chiến đấu Không biết về kinh thư yếu lược Trang bị manh áo vải, ngọn tầm vông, dao phong...→ Trang bị thô sơ là những vật dung sinh hoạt thường ngày Quân giặc đạn nhỏ, đạn to, tàu sắt, tàu đồng → vũ khí tối tân Khí thế chiến đấu Bút pháp tả thực Động từ mạnh đạp, xô, đâm, chém, xông → các cụm từ vừa diễn tả tinh thần vừa diễn tả khí thế chiến đấu xô cửa, xông vào, đạp rào, hè trước... Câu văn ngắn gọn, nhịp đệu khẩn trương, sôi động. ⇒ Tinh thần chiến đấu ngoan cường, quả cảm, dũng mãnh ⇒ Tác giả đã xây dựng bức tượng đài bất tử về người nông dân yêu nước, họ mang vẻ đẹp của người anh hùng chân chất mà làm nên lịch sử, vừa phi thường vừa bình thường. c. Phần ai vãn và kết thúc Tiếc hận cho các nghĩa sĩ ra đi khi sự nghiệp còn dang dở, ý nguyện chưa thành Tiếc thương cho Quê hương; nhân dân Sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dặm sầu giăng Chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ Gia đình; người thân Mẹ già khóc trẻ vợ yếu chạy tìm chồng → cảnh tan tác, hắt hiu, đau thương Khóc uất cho tình cảnh đau thương của quê hương đất nước. Thể hiện được niềm cảm phục và tự hào đối với các nghĩa sĩ Dũng cảm đứng lên đánh giặc Cái chết đã làm sáng tỏ chân lí của thời đại "chết vinh còn hơn sống nhục" Biểu dương tâm trạng "ôi một trận khói tan nghìn năm tiết rỡ..." ⇒ Khích lệ những người còn sống đứng lên đánh giặc Tổng kết Nội dung Bài văn tế là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc. Tác giả đã xây dựng nên bức tượng đài bất tử về người nông dẫn nghĩa sĩ Cần Giuộc. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam người nông dân có mặt ở vị trí trung tâm với tất cả vẻ đẹp bi tráng của tấm lòng dũng cảm hi sinh vì Tổ quốc. Nghệ thuật Kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực Ngôn ngữ vừa trang trọng vừa dân dã, bình dị, mang đậm sắc thái Nam bộ. Bài tập minh họa Ví dụ Đề Hãy chỉ ra tiếng khóc bi tráng của Nguyễn Đình Chiểu trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Gợi ý làm bài Các em có thể dựa vào những gợi ý dưới đây Đoạn Ai vãn là tiếng khóc bi tráng của tác giả trong bài văn tế. Tiếng khóc bi tráng ấy bắt nguồn từ Nỗi xót thương đối với người tử sĩ Niềm tiếc hận cho người phải hi sinh khi sự nghiệp còn dang dở. Nỗi đau đớn, não nùng của gia đình mất đi người thân. Nỗi căm hờn đối với những kẻ đã gây nên nghịch cảnh cho người nông dân. Tiếng khóc thương trong bài văn tế không chỉ thể hiện tình cảm riêng của tác giả mà đó còn là tiếng khóc của nhân dân cả nước, là nõi niềm, là sự tri ân, ghi nhận, tuyên dương công trạng của người nghĩa sĩ. Tiếng khóc không chỉ gợi lại sự tiếc thương mà còn khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí tiếp nối sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Đoạn Ai vãn là tiếng khóc bi tráng, mang nỗi đau tột cùng nhưng không chìm ngập rồi tan biến theo sự thương tiếc mà tiếng khóc ấy hết sức hùng hồn, phảng phất âm hưởng tự hào, khẳng định ý nghĩa bất tử của cái chết vì dân vì nước của người nông dân. Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc với vẻ đẹp bên ngoài bình dị, đời thường; vẻ đẹp bên trong là lòng dũng cảm, tinh thần vì nghĩa xả thân; khi đứng trước cảnh nước nhà bị xâm lăng họ vùng lên bằng tinh thần quật khởi. Để hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm, các em có thể tham khảo bài soạn tại đây Bài soạn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. 4. Hỏi đáp về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc phần tác phẩm Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em. 5. Một số bài văn mẫu về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc phần tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên một bức tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với những phẩm chất vốn có ngoài đời của họ. Nguyễn Đình Chiểu đã tạc nên hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân trong trạng thái, tính cách, hành động theo bản chất của người nông dân. Để cảm nhận sâu sắc hơn và dễ dàng viết một bài văn hoàn chỉnh, các em có thể tham khảo một số bài văn mẫu dưới đây TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN PHAN CẨM THU MSSV 6106431 GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn ThS. Gv. BÙI THỊ THÚY MINH Cần Thơ, năm 2013 ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử nghiên cứu 3. Mục đích nghiên cứu 4. Phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG Vài nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu Về cuộc đời Về sự nghiệp văn chương Quá trình sáng tác Nội dung thơ văn Đề cao lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa Thể hiện lòng yêu nước, thương dân Vài Nghệ thuật thơ văn nét về tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Hoàn cảnh sáng tác Văn bản Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và một số dị bản Vài nét về thể loại văn tế Khái niệm Phân loại Phân loại theo văn tự Phân loại theo nội dung Bố cục Giọng điệu CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ NỘI DUNG TRONG TÁC PHẨM VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU Ca ngợi phẩm chất anh hùng của người nghĩa sĩ nông dân Bày tỏ sự xót thương trước vong linh của những người nghĩa sĩ Khẳng định tư tưởng yêu nước, thương dân của Đồ Chiểu Bài học đắt giá đối với những người đang sống CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU Hình tượng nhân vật độc đáo Ngôn ngữ bình dị đậm đà bản sắc Nam Bộ Giọng văn thống thiết bi ai nhưng đầy vẻ hào hùng PHẦN KẾT LUẬN PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn, một danh nhân văn hóa lớn của dân tộc. Với lòng yêu nước, thương dân, Nguyễn Đình Chiểu nguyện cống hiến cả cuộc đời mình lo cho dân cho nước. Tuy cuộc đời của ông phải trải qua nhiều thăng trầm, phải sống trong cảnh thiếu thốn, gian khổ và bệnh tật nhưng ở Nguyễn Đình Chiểu lại toát lên một con người có tâm hồn thanh cao trong sáng, luôn luôn lạc quan yêu đời. Ông am giỏi cả ba lĩnh vực dạy học, làm thuốc và sáng tác thơ văn. Ở lĩnh vực nào Nguyễn Đình Chiểu cũng dốc hết tâm nguyện đem chí bình sinh để thực thi một đạo lớn đó là đạo làm người, một nghĩa lớn đó là nghĩa phó chính trừ tà. Ánh sáng của đôi mắt không còn nhưng ánh sáng của chân lý vì một lẽ sống cao đẹp đã soi sáng và dẫn đường trong ông. Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là một tấm gương sáng về tinh thần làm việc kiên cường và khí tiết yêu nước bất khuất. Tuy không thể trực tiếp cầm súng chiến đấu nhưng bằng ngòi bút tài ba cùng với tấm lòng yêu nước nồng nàn, Nguyễn Đình Chiểu đã biến nó thành một vũ khí sắc bén đâm thẳng vào “mấy thằng gian” - vào bọn thực dân cướp nước và bọn tay sai bán nước “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” Có lẽ vì sự ý thức được vai trò và sức mạnh của thơ văn đối với đời mà Nguyễn Đình Chiểu luôn hướng tác phẩm của mình về phía “nghệ thuật vị nhân sinh”. Ngoài việc truyền bá tư tưởng đạo lý làm người, thơ văn của yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, cho ta thấy rõ quá trình chiến đấu anh dũng và hào hùng của dân tộc ta trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó nung nấu chí căm thù giặc và bọn tay sai lên đến cực độ. Và hơn thế nữa, nó đã cháy lên ngọn lửa yêu nước của quân và dân ta. Nó kích thích và cổ vũ tinh thần chiến đấu quên mình để đổi lấy sự sống còn cho tổ quốc. Chính vì thế mà thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước, và cái chủ nghĩa ấy đã đi sâu vào trong lòng người Việt Nam không cần một lời giải thích. Một trong những tác phẩm đã 1 dệt nên chủ nghĩa yêu nước ấy và làm cho nó vang mãi đến tận bây giờ không thể không kể đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Có thể nói đây là một kiệt tác của nhân loại. Nó đánh dấu cột mốc quan trọng cho một thời kì “đau thương nhưng vĩ đại” , là “khúc ca về người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang” của dân tộc ta, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì tổ quốc. Do đó, trước tiên là vì sức ảnh hưởng lớn của tác phẩm - tác phẩm tạo nên những giá trị vô cùng cao đẹp, sau nữa là vì lòng yêu qúy và kính trọng của bản thân trước một nhà thơ vĩ đại của dân tộc. Cũng như vì sự say mê học hỏi của bản thân, thích khám phá tìm những cái hay cái đẹp, cái đã làm nên những giá trị bất hủ khiến biết bao thế hệ mãi vẫn còn gìn giữ và nhắc đến. Chính vì thế mà chúng tôi đã quyết định chọn đề tài “Giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” để tôn vinh đề cao những giá trị cao đẹp đó. Bên canh đó, nhân danh là một người con miền Nam, một người con của dân tộc Việt Nam anh hùng, chọn đề tài này chúng tôi muốn một lần nữa tưởng nhớ lại công lao mà các nghĩa sĩ đã hi sinh vì sự độc lập tự do của đất nước. Công lao to lớn đó nguyện mãi khắc ghi và sẽ mãi là tấm gương về tinh thần yêu nước soi sáng thế hệ của chúng tôi và các thế hệ sau. 2. Lịch sử nghiên cứu Đã có không biết bao nhiêu lời ngợi khen được viết về Nguyễn Đình Chiểu. Tuy vậy, nói mãi vẫn không hết, các thế hệ sau và sau nữa vẫn sẽ mãi nhắc đến tên người. Đồ Chiểu - cái tên nghe thân thương và thật gần gũi làm sao, cái tên đã làm nên một vì sao sáng trên bầu trời của dân tộc. Vì sao ấy sáng nghìn thu và sẽ không bao giờ vắng bóng. Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của người đã tạo nên những giá trị vô cùng cao đẹp, là bài học đắt giá, là tấm gương sáng ngời, soi sáng và dẫn đường cho các thế hệ sau. Hơn nữa, đó cũng là nguồn tài liệu vô cùng quí báo để các nhà ngiên cứu tìm hiểu và khám phá ở nhiều góc độ từ một ông đồ mù luôn giữ tâm hồn thanh tao, lạc quan vì lẽ sống cao đẹp, đến một nhà thơ yêu nước, một người thầy thuốc thương dân như từ mẫu. Dù đứng ở cương vị nào Nguyễn Đình Chiểu cũng nguyện dốc cả cuộc đời mình để lo cho dân cho nước, ông xứng đáng là một nhà văn hóa lớn của dân tộc ta. 2 Qua lượng tác phẩm ông đã để lại, tuy không nhiều nhưng sức ảnh hưởng của nó là rất lớn. Một trong những tác phẩm đó phải kể đến “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”_ tác phẩm đánh dấu cột móc quan trọng cho một thời kì lịch sử hào hùng của dân tộc ta. Đã có rất nhiều bài viết, những công trình nghiên cứu liên quan đến Nguyễn Đình Chiểu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm phát hiện ra cái hay cái đẹp, cái đã làm nên những giá trị lớn trong tác phẩm cũng như để khẳng định cái phẩm chất cao quý, một tâm hồn thanh cao của một Đồ Chiểu sống hết lòng vì dân, vì nước. Chúng tôi xin điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến tác giả cũng như tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Trước tiên chúng tôi xin nhắc lại bài viết “Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trong nền văn nghệ dân tộc” – Bài viết mà mỗi dòng đều thấm nhuần tâm huyết và tầm nhìn của thời đại chúng ta đối với con người và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu – Chủ tịch Phạm Văn Đồng nhận xét “…Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, một phần lớn là những bài văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước và than khóc những người liệt sĩ đã trọn nghĩa với dân. Ngòi bút nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu, đã diễn tả thật sinh động và não nùng cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ nghĩa quân, vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước” [16 ; Bên cạnh đó, Chủ tịch Phạm Văn Đồng đã đặt bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc bên cạnh bài Bình Ngô đại cáo - áng “Thiên cổ hùng văn” của dân tộc “Hai bài văn hai cảnh ngộ, hai thời buổi, nhưng một dân tộc. Hịch của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công oanh liệt chưa từng thấy, biểu dương chiến thắng làm rạng ngời nước nhà. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc…muôn kiếp nguyền được trả thù kia…” [16 ; tr. 88]. Quyển “Nguyễn Đình Chiểu tác phẩm và lời bình” đã giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu và trích dẫn các bài nghiên cứu phê bình về thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu ở các khía cạnh khác nhau. Bài viết của ĐặngThai Mai có nhận định “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp ngay từ buổi đầu chúng mới đặt chân lên xâm lược đất nước Việt Nam. [16; 3 Cũng trong quyển sách trên, Trần Thanh Mại trong bài viết “Nguyễn Đình Chiểu lá cờ đầu tiên của thơ văn yêu nước thời kì cận đại” viết “Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu mang nhiều giá trị hiện thực, tràn đầy tính nhân dân và tính dân tộc. Nó phản ánh khí thế quật cường bất khuất của dân tộc ta khoảng nữa sau thế kỉ XIX. Cả một thời đại đau thương và oanh liệt đã truyền hơi thở của nó vào các hịch, các văn tế và thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu, tiếp cho những áng thơ văn này một sức sống sôi sục, nhờ đó có một tác dụng động viên tuyên truyền mãnh liệt. [16; Quyển “Nguyễn Đình Chiểu tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, kỉ niệm lần thứ 150 năm ngày sinh của nhà thơ 1822 – 1972”. Trong quyển sách này có Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc kỉ niệm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu; Tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu; diễn văn của Hà Huy Giáp “Bài học sống chiến đấu và sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ lớn Nguyễn Đình Chiểu” đọc trong lễ kỉ niệm lần thứ 150 ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu; bài viết của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các bài nghiên cứu phê bình thơ văn Nguyễn Đình Chiểu xoay quanh vấn đề “Nguyễn Đình Chiểu tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật”. Trần Thanh Mại có nhận định “Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu khi thì hào hùng cảm khái, khi thì tha thiết lâm li, nhiều đoạn uyển chuyển, du dương, nhiều đoạn lại sôi nổi mạnh mẽ. So với giai đoạn trước xâm lăng, rõ ràng Nguyễn Đình Chiểu có một bước tiến mới về nghệ thuật, điều này thể hiện bước tiến mới của nhà thơ về tư tưởng” [20; Quyển “Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm” do Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn và giới thiệu, ngoài việc giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu, bên cạnh đó còn tập hợp rất nhiều bài viết có giá trị. Nguyễn Quang Thắng trong bài Nguyễn Đình Chiểu và các bài văn tế “lòng yêu nước thiết tha nồng nàn ấy không phải là tình cảm thông thường của một con người nhiều tình cảm. Mà nó xuất phát từ lòng yêu mến nước tổ, dòng giống ; tự hào về lịch sử lâu đời của dân tộc. Cảm tình ấy được thoát ra từ cái thực tại đau thương trước thảm họa của nước nhà. Bằng những tác phẩm dài hơi Lục Vân Tiên, Ngư Tiều y thuật vấn đáp đến những bài văn tế lâm ly, thống thiết nhưng rất hùng dũng, nguyễn Đình Chiểu đã nói lên đầy đủ tiếng nói của mình”[17; Bên 4 cạnh đó ông cũng đã chỉ ra “Các bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu có một giá trị rất lớn, vì nó xuất phát từ tính dân tộc, lòng yêu mến giống nồi”. Quyển “Đến với thơ Nguyễn Đình Chiểu”, quyển sách cũng tập hợp rất nhiều bài viết có giá trị, trong đó Mai Quốc Liên với bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – khúc ca về người anh hùng nông dân cứu nước” đã cảm nhận một cách sâu sắc về nội dung của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và ông đã nhấn mạnh “Trong nghiên cứu về sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta cần dành một chổ thích đáng cho áng văn này, áng văn là đỉnh cao, là tiêu biểu cho sự nghiệp thơ văn Nguyễn Đình Chiểu” [3; Có thể nói đây là bài viết đã chỉ ra được những đóng góp mà Nguyễn Đình Chiếu đã thể hiện trong bài văn tế, chỉ ra được những điểm tương đồng và khác biệt so với nhứng tác phẩm đã làm nên những đỉnh cao chói lọi. Đặc biêt là bài viết đã chỉ ra được điều gì đã làm cho “Văn tế nghĩa dân chết trận Cần Giuộc là một khúc ca hùng tráng, não nùng, bi ai, một khúc ca đánh dấu một giai đoạn phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời phong kiến” [3; Cũng trong quyển sách này, bài viết của Lê Trí Viễn đã có những cảm nhận khá tinh tế về tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bằng những lời lẽ phân tích lập luận vô cùng xác đáng ông đã đem đến cho bạn đọc một cách nhìn mới về tác phẩm này “Tác phẩm đã làm nên một thiên anh hùng ca tuyệt diệu, không ai khác hơn họ là những người nông dân hiền lành, giản dị, quanh năm chỉ biết cày cấy làm ăn, chân lắm tay bùn. Vậy mà khi lòng nghĩa dấy lên, căm thù quân giặc, chán trông vua quan, đã biến họ thành những người cứu nước anh hùng và “hình bóng của họ làm chủ chiến trường, nổi lên nền trời, kín lấp cả không gian, lồng lộng như một tượng thần kỳ vĩ, một tượng thần anh hùng ca” [3; Đó đúng là một thiên anh hùng ca tuyệt diệu với tư tưởng lớn song lời văn rắn rỏi, mãnh liệt, âm điệu dồn dập, sôi sục bản hùng ca này đã làm biết bao thế hệ hết lời ngợi khen và kính phục trước một ông Đồ mù – Đồ Chiểu. Tác phẩm đã tạo nên một sức mạnh lớn “Đó là sức mạnh trong lòng người, trước mắt và mai sau. Đó là sức mạnh diệu kỳ, có khả năng làm cho người ta sảng khoái nở gan nở ruột, có lúc làm cho người ta khoa chân múa tay, mà cũng có lúc khiến người ta trầm ngâm suy nghĩ về một bài học vinh nhục ở đời, về lý tưởng vì nước vì dân.” [3; 5 Từ những công trình nghiên cứu trên, ta thấy được sức ảnh hưởng rất lớn từ cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu. Đặc biệt khi Nguyễn Đình Chiểu cho ra đời Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc. Đề tài “Giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” như chúng tôi đã đề cập hiện có rất nhiều bài viết, những công trình nghiên cứu liên quan đến tác phẩm này, nhưng những công trình ấy còn ở mức khái quát, chưa thật cụ thể và trọn vẹn được vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu. Song, chính những công trình ấy sẽ là nguồn tư liệu vô cùng quý báu giúp chúng tôi tìm hiểu và triển khai đề tài “Giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” một cách sâu sắc và trọn vẹn hơn. 3. Mục đích nghiên cứu Chọn đề tài “Giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” nhằm mục đích nghiên cứu tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc sâu sắc và toàn diện trên cả hai khía cạnh nội dung và nghệ thuật, để từ đó thấy được cái giá trị cốt lõi mà tác phẩm đã mang lại đâu là giá trị nội dung và đâu là giá trị nghệ thuật. Từ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đã làm nổi bậc tư tưởng gì của tác giả? Ở khía cạnh nội dung mục đích chúng tôi muốn tìm hiểu là khai thác đâu là giá trị nội dung chính trong tác phẩm và từ đó triển khai một cách trọn vẹn những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm. Ở khía cạnh nghệ thuật với mục đích là tìm hiểu đâu là những biện pháp nghệ thuật chủ yếu được tác giả sử dụng trong tác phẩm? Những biện pháp đó góp phần quan trọng như thế nào cho việc hình thành nội dung tác phẩm. Trên cơ sở đó chúng tôi triển khai để làm nổi bậc giá trị nghệ thuật mà tác phẩm đã mang lại. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu về đề tài này sẽ giúp chúng tôi góp phần nhỏ của mình vào việc nghiên cứu giá trị thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu. 4. Phạm vi nghiên cứu Đối với đề tài này phạm vi nghiên cứu sẽ xoay quanh tìm hiểu “Giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu”. Phạm vi khảo sát chủ yếu là tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của 6 Nguyễn Đình Chiểu. Bên cạnh đó trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sẽ so sánh với một số bài văn tế và một số tác phẩm khác có liên quan để bổ sung và làm sáng tỏ đề tài. Tuy nhiên phạm vi khảo sát chủ yếu vẫn là tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. 5. Phương pháp nghiên cứu Để việc nghiên cứu đề tài “Giá trị nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu” một cách hoàn chỉnh và thật lôgic chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau Phương pháp tiểu sử Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp tiểu sử để tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn chương của tác giả nguyễn Đình Chiểu. Từ cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông đã đem đến những giá trị cao đẹp, là bài học làm người cho nhân loại. Phương pháp phân tích – tổng hợp Sử dụng phương phân phân tích – tổng hợp chủ yếu là để đi sâu khám phá từng yếu tố từng khía cạnh nội dung cũng như nghệ thuật từ đó làm cơ sở để chúng tôi tổng hợp lại các giá trị cốt lỗi mà bài văn tế đã đem lại. Phương pháp so sánh – đối chiếu Giúp chúng tôi chọn được văn bản tốt nhất, gần nhất với tác giả cũng như tác phẩm để từ đó chúng tôi có thể triển khai vấn đề một cách chính xác và khách quan hơn. Ngoài ra, khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi còn sử dụng các thao tác tư duy bổ trợ cần thiết cho các phương pháp nghiên cứu chính như phân tích, tổng hợp, chứng minh, giải thích, hệ thống,…nhằm mục đích làm sáng tỏ vấn đề một cách rõ ràng, thuyết phục. 7 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG Vài nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu Nguyễn Đình Chiểu 1882-1888 là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của dòng văn học yêu nước nữa cuối thế kỷ XIX. Tuy Nguyễn Đình Chiểu sống trong giai đoạn lịch sử đầy bão táp và ngay cả cuộc đời của ông cũng phải trải qua nhiều biến cố, thăng trầm, thế nhưng những điều đó không làm quật ngã được một con người với tấm lòng yêu nước, thương dân bất khuất chính vì thế mà tên tuổi của ông mãi được tôn vinh và ca ngợi muôn đời. Đi sâu vào tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của ông để thấy được tấm gương về một nhà văn hóa và những đóng góp vô cùng to lớn trong lĩnh vực văn chương. Về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu, tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù có hiệu là Hối Trai. Sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm Ngọ, tức ngày 1 tháng 7 năm 1882, ở làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh trong một nhà đình phong kiến lớp dưới. Cha là Nguyễn Đình Huy người xã Bồ Điền, huyện Phong, tỉnh Thừa Thiên Trung Việt, vào Sài Gòn làm thơ lại, nơi Văn Hàn Ty của Tả quân Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, người làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định. Nguyễn Đình Chiểu sinh ra trong một gia đình không lấy gì làm cao sang lắm. Nhưng, dù sao từ thuở thiếu thời, ông cũng chưa đến nỗi phải sống một cuộc đời lao đao, vất vả nếu không có cảnh quốc biến dẫn đến gia biến bất ngờ đã khiến cho cuộc đời ông phải trải qua nhiều bước thăng trầm, phải sống trong cảnh khổ đau của bản thân và của đất nước. Từ thời thơ ấu cho đến tuổi mười một, mười hai, Nguyễn Đình Chiểu đã được sống và học tập có nền nếp bên cạnh bà mẹ hiền. Ông thường được mẹ kể cho 8 nghe nhiều truyện cổ nhân gian và được theo mẹ đi xem hát ở vườn Ông Thượng tức vườn tao Đàn ngày nay. Qua đó, Ông đã được mẹ giáo giục về những điều thiện ác, trung nịnh, chính tà, nhân nghĩa,..Nguyễn Đình Chiểu lại được theo học ở làng với một ông đồ, ông này là học trò ông Nghè Chiêu, môn sinh của Võ Trường Toản. Việc nuôi dạy của bà mẹ và việc giáo dục của thầy vỡ lòng đã có ảnh hưởng rất lớn đối với sự hình thành tư tưởng sao này của ông. Nhưng rồi đường đời của ông không phải cứ thẳng tấp, suôn sẻ. Từ năm mười một, mười hai tuổi ông đã phải trải qua những ngày bão táp kinh hoàng và rẽ vào một lối khác gập ghềnh khúc khuỷu. Tuổi niên thiếu của Nguyễn Đình Chiểu từng chứng kiến cảnh loạn lạc của xã hội lúc bấy giờ, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi tại Gia Định. Cuộc nổi dậy này đã khiến cha ông phải bỏ chốn ra Huế rồi bị cách chức. Năm 1833 cha ông trở vào Nam, đem Nguyễn Đình Chiểu chạy ra Huế. Ở đây, Nguyễn Đình Chiểu được gởi vào gia đình một quan lại Thái phó, hàng ngày vừa lo việc điếu đãi hầu hạ, vừa ra sức học tập. Vụ án Lê Văn Duyệt và cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi là sự bùng nổ của những mâu thuẫn sâu sắc đã ngấm ngầm lâu nay trong nội bộ của tập đoàn phong kiến thống trị. Sự kiện hãi hùng này cùng với điều tai nghe mắt thấy trong tám năm ông theo học tại Huế và chế độ quan trường, hẳn đã gợi trong đầu ông những suy nghĩ đầu tiên về thời thế, công danh, về đạo lý làm người và nhất là về đất nước và dân tộc. Luôn ý thức được trách nhiệm và nghĩa vụ của một người con yêu nước, ngay từ bé Nguyễn Đình Chiểu đã cố gắng học tập và không ngừng trao dồi kiến thức, tu dưỡng bản thân để trở thành một người có đầy đủ đức và tài hoàn thành sự nghiệp vẽ vang cho dân tộc. Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, đúng vào năm 21 tuổi. Khi ấy có một nhà họ võ hứa gả con gái cho ông. Thành công bước đầu đã khuyến khích ông thêm nỗ lực, ra công đèn sách. Năm 1847, ông trở ra Huế học để chờ khoa thi năm Kỷ Dậu 1849. Cùng năm thì ông nghe tin giặc Pháp nổ súng xâm lược nước ta, nỗi đau vì “tấc đất ngọn rau” của Tổ quốc đang bị xâm phạm chưa nguôi thì ông lại nghe tin sét đánh từ Gia Định đưa ra là mẹ mất, khoa thi đành dang dỡ. Trên đường trở về Sài Gòn chịu tang mẹ, 9 giữa đường vì quá thương khóc mẹ và phần vì thời tiết thất thường nên ông bị lâm bệnh mắc chứng đau mắt và từ đó ông đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy gì nữa. Trong thời gian nghĩ lại tại Quảng Nam chữa bệnh, tuy bệnh không hết nhưng ông đã được danh y truyền dạy nghề thuốc. Đui mù, trở về chịu tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu lại gặp cảnh éo le chua chát vị hôn thê bội ước, cảnh nhà sa sút,…ông đóng cửa chịu tang cho đến năm 1851, sau khi mãn tang mẹ, ông mới mở trường dạy học và làm thuốc. Có thể nói đến lúc này, ông đã trưởng thành về tuổi đời và cả về tư tưởng. Đó chính là “lòng đạo” tức cái tư tưởng nhân nghĩa của ông. Từ đây ông đã thực hiện việc cứu người về thể chất, dạy người về tinh thần. Công việc hành đạo bắt đầu với những phương thức khác nhau dạy học, làm thuốc và sáng tác văn học. Năm 1854, một người học trò tên là Lê Tăng Quýnh vì cảm phuc và mến thương ông, nên đã xin gia đình gả cô em gái thứ năm của mình tên là Lê Thị Điền 1835-1886, người Cần Giuộc Long An cho thầy. Kể từ đó cuộc sống đã bớt nỗi cô đơn. Gần ngót chục năm, ông vừa dạy học vừa làm thuốc và cũng vừa sáng tác truyện Lục Văn Tiên và Dương Từ Hà Mậu để gởi gắm tình ý cùng hoài bảo của mình. Ông đã có được cuộc sống yên vui bên cạnh gia đình ấm cúng và trong tình thương yêu quý trọng của nhân dân và môn sinh của mình. Đến năm 1859, quân Pháp sau khi đánh chiếm Đà Nẵng, đã kéo vào Sài Gòn, tràn vào sông Bến Nghé, quan quân của triều đình chống trả yếu ớt. Ngày 17 tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định. Năm 1859 có thể nói là năm đã mở ra một thời kì đen tối của đất nước và cũng mở đầu cho những trang sử đẫm máu mà vẻ vang, oanh liệt của dân tộc ta chống trả quyết liệt bọn thực dân cướp nước. Từ đây cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu cũng sang trang để bắt đầu ghi nhận những sự kiện oai hùng của đất nước chống ngoại xâm. Bài Chạy giặc ghi lại sự kiện sông Bến Nghé, có lẽ là bài thơ mở đầu cho một thời kì yêu nước, đồng thời cũng là bài thơ mở đầu cho cái nhìn độc đáo của nhà thơ. Khác với một số nhà thơ nhà văn đương thời, người “dân đen” đã bắt đầu đi vào thơ văn yêu nước của ông, khác với một số nhà thơ, nhà văn đương thời. Ngòi bút nhân nghĩa đã viết về Lục Vân Tiên Trước kia giờ đây đã cụ thể hóa thành tinh thần yêu nước chống ngoại 10 xâm. Và từ đây ngòi bút ấy đã trở thành một vũ khí sắc bén đâm thẳng vào lũ giặc cướp nước và bọn tay sai bán nước. Đối với ông, nhân nghĩa và chống ngoại xâm là đức tính truyền thống cao cả của dân tộc. Nó thống nhất nguyện hòa làm một, không tách rời nhau “Mến nghĩa bao đành làm phản nước Có nhân sao nỡ phụ tình nhà” Nguyễn Đình Chiểu sống ở Sài Gòn, cho đến khi thành Gia Định thất thủ 17-02-1859 mới dọn về quê vợ tại làng Thanh Ba, quận Cần Giuộc. Cũng tại nơi đây, ông sáng tác Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được nhân dân cả nước đánh giá cao. Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không thể sống trong vùng chiếm đóng, ông đành phải cùng gia đình xuôi về Ba Tri, tỉnh Bến Tre “Vì câu danh nghĩa phải đi xa Day mũi thuyền Nam dạ xót xa” Tại đây ông tiếp tục dạy học, làm nghề thuốc chữa bệnh cho nhân lúc này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Ngư Tiều y thuật vấn đáp, một tác phẩm vừa có tính văn học, vừa có tính y học cao. Mặt dù đời sống thì chật vật, mắt mù, đi lại khó khăn Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ mối quan hệ chặt chẽ với sĩ phu yêu nước như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông và các lực lượng kháng chiến; từ chối mọi cám vỗ của đối phương. Thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác nhiều thơ văn bi tráng nhất, tiếc thương những đồng bào, bạn bè, nghĩa sĩ đã mất. Trong khi dùng đầu óc tham gia kháng chiến, “lòng đạo” của Nguyễn Đình Chiểu ngày càng được củng cố. Ông đã từng khẳng định “lòng đạo” của mình thủy chung đứng vững “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt Lòng đạo xin tròn một tấm gương” Tấm gương ấy quả thật là một tấm gương nhân nghĩa và chứa chan lòng yêu nước. Tấm gương ấy là một tấm gương trong sáng, suốt đời không chút bụi mờ, không danh lợi nào có thể làm hoen ố. Suốt một cuộc đời ông luôn sống thanh bạch, cao cả bên cạnh đám học trò thân yêu và quần chúng nhân dân lao động. Con người vĩ đại ấy khiến cho kẻ thù phải cuối đầu khâm phục. Đặc biệt là khi tác phẩm Văn 11 tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ra đời tên tuổi của ông còn vang danh khắp chốn. Nhiều người hết sức tâm đắc ngợi khen, trong đó có Tùng Viện Vương Miên Thẩm và nữ sĩ Mai Am. Năm 1888, khi nghe tin Hàm Nghi bị Pháp bắt ông đau buồn vô hạn, phần vì mang bệnh trong người đã nhiều năm qua, cơ thể thêm hao mòn, ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 3-7-1888 tại Ba Tri, Bến Tre. Cánh đồng Ba Tri rợp bóng khăn tang của những bạn bè, học trò, con cháu xa gần, những thân chủ được ông chửa khỏi bệnh và những đồng bào quanh vùng hoặc đã chịu ơn ông, hoặc vì mến mộ một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn. Nhân cách của nguyễn Đình Chiểu là một minh chứng sống động tinh thần lạc quan của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngã, nhưng sự nghiệp của con người ấy không thế mà buông xuôi theo số phận. Vượt qua số phận để đứng vững trước những sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống của một con người có nhân cách cao đẹp. Về sự nghiệp văn chương Quá trình sáng tác Cuộc đời khí tiết của Nguyễn Đình Chiểu đã làm nên một sự nghiệp vẻ vang – sự nghiệp văn chương chiến đấu đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ chúng, sự nghiệp của một chiến sĩ kiên cường không biết mệt mõi trên mặt trận văn hóa dân tộc, trọn đời hy sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn. Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà thơ lớn đầu tiên ở Nam kỳ sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm. Cuộc đời sáng tác của ông có thể chia làm hai giai đoạn tương ứng với sự hình thành và phát triển tư tưởng trong ông Giai đoạn đầu là giai đoạn những năm mươi của thế kỷ XIX. Trong giai đoạn này, ngoài việc dạy học và làm thuốc, ông đã viết hai tập truyện dài Truyện Lục Vân Tiên và Dương Từ Hà Mậu, đều nhằm mục đích là truyền bá đạo lí làm người. Lục Vân Tiên là tác phẩm thơ Nôm đầu tiên, trong đó có những mối quan hệ tức cực và tiêu cực trong gia đình và xã hội, thông qua những nhân vật lý tưởng như Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, Tiểu đồng, những người lao động giàu 12 lòng nhân nghĩa như vợ chồng ông ngư, ông Tiều…qua đó Nguyễn Đình Chiểu muốn khẳng định con người sống phải có nhân nghĩa, đạo lý, phải tương thân giúp đỡ nhau trên cơ sở nhân nghĩa. Đồng thời ông phê phán những việc làm phản nhân nghĩa. Dương Từ - Hà Mậu. Theo kết quả nghiên cứu nhiều người, thì Dương Từ Hà Mậu có thể được soạn từ năm 1851 và hoàn chỉnh vào những năm trước khi thành Gia Định rơi vào tay giặc Pháp. Là một tác phẩm lớn toát ra một tinh thần yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Trước nguy cơ đổ vỡ cả nền tản đạo đức cố hữu do ý đồ của quân thù xâm lược, Dương Từ - Hà Mậu như lời kêu gọi mọi người trở về với “chính đạo”, đủ tạo ra một sức mạnh cứu nguy cho Tổ quốc. Tác phẩm chỉ ra một trân lý sáng ngời cực kỳ quan trọng là phải biết tiêp thu những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà ông mệnh danh là “chính đạo” để tu dưỡng mọi người đạt tới được sự thống nhất tư tưởng, biết yêu lẽ chính, ghét cái tà để hành động cho sự tiến bộ của xã hội. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển cao và rực rỡ của sự nghiệp văn chương Nguyễn Đình Chiểu. Giai đoạn này mở đầu từ những ngày giặc Pháp mới tràn vào sông Bến Nghé cho đến khi cõi Lục tỉnh Nam Kỳ bị chiếm đóng tức là vào những năm 60 và 70 của thế kỷ XIX. Ở giai đoạn này thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành lá cờ đầu tiên của thơ văn yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX với những tác phẩm xuất sắc về cả nội dung tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật như Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế Trương Định, Thơ điếu Trương Định, Thơ điếu Phan Tòng, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, Ngư Tiều y thuật vấn đáp còn gọi là Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca, một truyện thơ dài. Tư tưởng yêu nước vốn có trong Lục Vân Tiên – một tư tương yêu nước thuần túy lý tưởng – đến giai đoạn này lại được đem ra thể nghiệm, thử thách trong thực tế chống giặc ngoại xâm với một kẻ thù hung bạo, hiện đại, chứ không phải là thứ giặc “Ô Qua” tưởng tượng. Tư tưởng yêu nước đó đã được thử thách và được tôi luyện trở thành chủ nghĩa yêu nước rất chân thực và rất hiện thực, vì nó phải đương đầu giải quyết nhiều mâu thuẩn thực tế Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa trung quân Nho giáo với chủ nghĩa yêu nước, mâu thuẩn giữa quan niệm nho giáo với quan niệm truyền thống về vai trò và vị trí của giai cấp nông dân với một nước 13 phong kiến chống ngoại xâm; và vì nó đã mang trong nó tất cả sức sống mãnh liệt chiến đấu đương thời, rất gần với chủ nghĩa yêu nước truyền thống. Thơ – Văn tế của ông mang tính chất thời sự, tính chiến đấu sôi nổi. Ông đã vạch trần tội ác của giặc và tay sai, nói lên ước mơ nước nhà được giải phóng của nhân dân và thể hiện sự căm thù của quần chúng nhân dân đối với bọn xâm lược. Nó đã làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ suốt trong cả giai đoạn này. Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca, như tên của tập sách, thì đó là một quyển văn vần dạy nghề thuốc chữa bệnh. Nhưng chủ ý của tác giả là qua câu chuyện vấn đáp giữa hai nhân vật Ngư và Tiều mà tiếp tục biểu dương đạo đức làm người. Nguyễn Đình Chiểu đã mượn lời của những nhân vật trong truyện để nói nên lòng yêu nước, căm thù giặc, khinh ghét bọn người vô sỉ, cam tâm làm tay sai cho quân xâm lược. Và ông cũng mượn câu truyện này để nói lên những vấn đề mà ông hằng quan tâm, đau lòng vì nó. Bằng ngòi bút của mình, Nguyễn Đình Chiểu đã suốt đời chiến đấu không mệt mỏi cho đạo đức chính nghĩa, cho độc lập tự do của dân tộc. Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên những trang viết đề cao tư tưởng nhân nghĩa và tinh thần yêu nước sâu sắc. Sự nghiệp văn chương của ông đã đưa ông lên địa vị của một người mở đầu cho dòng văn học yêu nước và là ngôi sao sáng trong bầu trời văn học dân tộc trong thời cận đại. Nội dung thơ văn Đề cao lý tưởng đạo đức, nhân nghĩa Vận mệnh đen tối, cuộc đời bế tắc, phải sống trong cảnh mù lòa, không hề than trách cho số phận của mình, ông đã vượt qua tất cả. Và chính Nguyễn Đình Chiểu lại đem đến một nguồn ánh sáng nhân nghĩa chói lọi, đem đến cho nhân loại một bài học quí về đạo lý làm người. Dẫu là mù nhưng con người ấy có cái tâm sáng ngời và bằng một ý chí lạc quan kiên cường ông đã chiến thắng được vận mệnh. Đề cao lý tưởng đạo đức, “nhân nghĩa” là một trong những nội dung cốt lõi được ông nhắc đến trong những áng thơ văn của mình. Trong đó, có thể nói Lục Vân Tiên là tác phẩm thể hiện sâu sắc và rõ nét nhất nội dung này. Mục đích mà 14 Nguyễn Đình Chiểu viết nên tác phẩm này là truyền dạy những bài học về đạo làm người chân chính . Đó là đạo lý mang tinh thần của đạo nho nhưng lại rất đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc. Những mẫu người lí tưởng trong tác phẩm là những con người sống nhân hậu, thủy chung, biết giữ gìn nhân cách thẳng ngay, cao cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực tàn bạo, cứu nhân độ thế như lời của Lục Vân Tiên “Tôi xin ra sức anh hào Cứu người cho khỏi lao đao buổi này” Hay “Làm ơn há dễ mong người trả ơn” Từ khi tác phẩm Lục Vân Tiên ra đời khó mà nói hết được lòng hâm mộ của bà con miền Nam đối với tác phẩm này. Hầu hết bà con nông dân đều thuộc và kể Lục Vân Tiên. Mỗi em bé miền Nam được mẹ, bà ru kể chuyện Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga. Điều gì đã cuốn hút sự ham thích say mê của bà con miền Nam đối với tác phẩm bất hủ ấy? Điều trước tiên theo tôi là do tác phẩm mang đậm đà tính dân tộc bởi ngôn ngữ bình dị, trong sáng của nó. Điều quan trọng là tác phẩm mang một giá trị giáo huấn con người, đề cao lý tưởng nhân nghĩa một cách xác đáng. Trọng nghĩa khinh tài, ghét điều gian ác là một đặc trưng của nông dân miền Nam nói riêng và người dân việt Nam nói chung. Ai mà chẳng yêu, chẳng kính những con người như Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực, ông Quán, ông Tiều, ông Ngư, Tiểu Đồng. Và ai mà chẳng ghét những con người gian ác như Trịnh Hâm, Bùi kiệm, cha con Võ Thể Loan. Những con người tốt trong Lục Vân Tiên kế tục truyền thống cao quí của dân tộc về nhân nghĩa. Đó là những con người trung thực, làm những việc nghĩa như một nhu cầu mà không hề nghĩ đến tiền tài, danh lợi “Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài…” “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi làm người thế ấy cũng phi anh hùng…” Lục Vân Tiên là nhân vật lý tưởng của tác giả. Lục Vân Tiên mang đầy những phẩm chất tốt đẹp của con người mà Nguyễn Đình Chiểu Mơ ước. Chàng cứu Nguyệt Nga vì thấy chuyện bất bình và hết lòng giúp đỡ mà không cần trả ơn gì 15 cả. Chàng rất có hiếu với mẹ và vì quá thương khóc mẹ mà bị mù. Cho nên chàng còn biểu thị cho đạo đức và làm xúc động lòng người. Bên cạnh Lục Vân Tiên “Trai thời trung hiếu làm đầu” thì Nguyệt Nga là người con gái điển hình cho lòng chung thủy kiên trinh Việt Nam “Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”. Nguyệt Nga không phải là người con gái chỉ biết trung hậu một cách thụ động, nàng đã đấu tranh chống lại sự áp bức của triều đình. Nàng đã can đảm chống lại số phận và nàng đã thắng. Những tập tục cố hủ phong kiến không thể nào ràng buộc một người phụ nữ đảm đang bất khuất, biết làm chủ lấy cuộc sống của mình. Khi xây dựng nhân vật điển hình ông Quán, cũng như khi xây dụng nhân vật điển hình Kỳ Nhân Sư trong Ngư Tiều Y thuật vấn đáp, Nhân Sư nói lẽ chính tà, ông Quán tập chung vào sự ghét thương “Quán rằng rét việc tầm phào, Ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm. Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm, Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Ghét đời U, Lệ đa đoan, Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần. Ghét đời Ngũ bá phân vân, Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn. Ghét đời Thúc, Quý phân bằng, Sớm đầu, tối đánh lằng nhằng rối dân”. Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt nhấn mạnh tư tưởng thương ghét sao cho đúng? Phải biết đánh giá tốt xấu, phải trái, phải biết nhận định nên chăng. Cái nào đáng ghét thì “ghét cai ghét đắng”, “ghét vào tận tâm”. Cái nào đáng thương thì thýõng một cách thiết tha, chân thành. Nguyễn Đình Chiểu lấy tiêu chuẩn của sự ghét thương là “dân”, ai vì dân hay hại dân, vì dân thì ta thương, ai hại dân thì ta ghét. Trong cuộc đời đầy rẫy phức tạp, tiêu chuẩn ghét thương qua lời ông Quán là xác đáng. Bởi lẽ phải nhận định được đâu là phải, đâu là tốt xấu, nên chăng mới thật sự là người có lí tưởng nhân nghĩa. 16 Bạn đang ởTrang chủ / so1vn / Bài Thơ Tiếng Nghệ Nguyễn Bùi Vợi – Tình Yêu Quê Hương Mãnh LiệtBài thơ Tiếng Nghệ được nhiều bạn đọc biết đến nhất là những vùng miền khác. Nguyễn Bùi Vợi là một người con của xứ Nghệ thân thương. Với đặc trưng tiếng nói vùng miền mà bài thơ gợi sự ngạc nhiên và thích thú với giọng nói và cách dùng từ của Nghệ An. Qua bài thơ, tác giả bày tỏ niềm tự hào về quê hương mình đến với bạn đọcMột bài thơ đặc sắc như vậy , chắc hẳn bạn sẽ rất tò mò phải không ? Ngay bây giờ chúng ta cùng nhau cảm nhận những điều thật thú vị qua bài thơ nhé! Cái gầu thì bảo cái đài Ra sân thì bảo ra ngoài cái cươi Chộ tức là thấy mình ơi Trụng là nhúng đấy đừng cười nghe em Thích chi thì bảo là sèm Nghe ai bảo đọi thì mang bát vào Cá quả lại gọi cá tràu Vo troốc là bảo gội đầu đấy em… Nghe em giọng Bắc êm êm Bà con hàng xóm đến xem chật nhà Răng chưa sang nhởi nhà choa Bà o đã nhốt con ga trong truồng Em cười bối rối mà thương Thương em một lại trăm đường thương quê Gió Lào thổi rạc bờ tre Chỉ nghe giọng nói đã nghe nhọc nhằn Chắt từ đá sỏi đất cằn Nên yêu thương mới sâu đằm đó em. Trên đây, đã dành tặng bạn một thơ vô cùng ý nghĩa và đặc sắc. Qua bài thơ chúng ta càng hiểu rõ thêm về những nét đặc trưng của vùng miền. Những bạn ở xứ Nghệ lại thêm phần tự hào, thích thú về quê hương của mình. Tác giả cũng bày tỏ tình yêu mãnh liệt của mình đối với quê hương. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết!

nghệ thuật bài văn tế nghĩa sĩ cần giuộc