Tuấn Anh (Theo Pravda) Thứ hai, ngày 05/09/2022 10:19 AM (GMT+7). Trong hơn 6 tháng chiến tranh với Nga, khẩu đội tên lửa phòng không Buk M1, các thành viên chiến đấu dưới sự chỉ huy của Anh hùng Ukraine Yaroslav Melnyk đã tiêu diệt 28 mục tiêu bao gồm 11 máy bay chiến đấu các loại, 2 trực thăng, 2 tên lửa hành trình và 13 UAV.
1. Mở bài : Giới thiệu chung về trận chiến em muốn kể lại, hoàn cảnh em đã đọc, nghe, xem trận chiến đó. Bạn đang xem: Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh. 2.Thân bài :
Trong chiến dịch Thanh gươm sa mạc kéo dài 100 giờ từ ngày 24-2 đến 28-2-1991, đã có khoảng 25.000 - 50.000 binh sĩ Iraq thiệt mạng và 80.000 binh sĩ Iraq bị bắt. Trong 345 binh sĩ liên quân thiệt mạng, phân nửa tử trận, số còn lại chết do tai nạn và trúng đạn phe mình. Khoảng 3.
Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh - mẫu 1 Lịch sử quân sự Hoàng Mai còn ghi rõ những trận đánh trên mảnh đất kiên cường này trong những năm chiến tranh chống Mỹ. Trong những dòng lịch sử đó, có tên Đỗ Lương Bằng, có cả thế trận chiến tranh nhân dân.
Ba con rồng chiến đấu ác liệt ở phía trên mặt trận cách hàng trăm feet, những quả cầu lửa được bắn ra từ khắp nơi, sáng tới nổi mà những người đứng ở dưới nhìn lên tưởng là mặt trời mọc khắp nơi. Có một lúc, hàm của Meleys gần cắn trúng cái cổ vàng của Sunfyre, cho đến khi Vhagar lao thẳng vào tấn công cả hai từ trên xuống.
Truyền thống đoàn kết, vì dân, vì nước của Quốc hội khoá I do Chủ tịch Hồ Chí Minh hết lòng chăm lo xây dựng và phát triển đã đưa kháng chiến đến thắng lợi thì nhất định vẫn sẽ là một trong những nhân tố quan trọng để Quốc hội Việt Nam khóa XIV và các khóa
3gB8p. Qua những bộ phim, những câu chuyện kể chắc hẳn các em đã từng chứng kiến nghe kể đến những trận chiến quyết liệt, đó có thể là cuộc chiến giữa những lực lượng đối lập, cũng có thể là cuộc chiến của chính dân tộc Việt Nam với các thế lực ngoại xâm. Hãy kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh. Bài viết liên quan Kể lại một trận thi đấu thể thao ở trường em Kể một câu chuyện về đề tài Chiến thắng bệnh tật. Soạn bài Kể chuyện Kể chuyện đã nghe, đã đọc trang 120 SGK Tiếng Việt 5 Kể một câu chuyện mà em đã được nghe, được đọc về tính trung thực Đoạn văn ngắn kể lại một trận thi đấu thể thao mà em đã có dịp xem Đề bài Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnhMục Lục bài viếtI. Dàn ý chi tiếtII. Bài văn mẫu 1. Bài mẫu số 1 2. Bài mẫu số 2 3. Bài mẫu số 3 4. Bài mẫu số 4Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnhI. Dàn ý Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh 1. Mở bài Giới thiệu về trận chiến ác liệt mà em định kể em đã đọc, đã nghe kể hoặc xem trên màn ảnh 2. Thân bài- Mở đầu và hoàn cảnh xảy ra trận chiến ác liệt+ Câu chuyện diễn ra vào không gian, thời gian nào?+ Nguyên nhân dẫn đến trận chiến ác liệt?- Diễn biến trận chiến+ Sự chuẩn bị của quân ta+ Tinh thần chiến đấu, sự chỉ huy tài tình của quân ta+ Miêu tả thế trận, quang cảnh trận đánh ác liệt- Kết quả trận chiến+ Quân ta giành thắng lợi hoàn toàn+ Quân địch thua cuộc thảm bại. 3. Kết bàiNêu cảm nghĩ của em về trận chiếnII. Bài văn mẫu Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh 1. Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh, mẫu số 1 ChuẩnTrải hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước dân tộc ta đã anh dũng quật cường chống lại rất nhiều thế lực ngoại xâm, nói về những trận chiến vĩ đại nhất của lịch sử dân tộc không thể không kể đến trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 938. Cuối năm 938 quân Nam Hán lấy cớ sang xâm lược nước ta lần hai, chúng chọn con đường biển để tấn công vào nước ta. Nắm được tình hình, Ngô Quyền đã tận dụng thời cơ và địa thế của sông Bạch Đằng để bày binh bố trận, ông cho quân lính đóng cọc gỗ ngầm và lợi dụng thuỷ triều lên xuống để làm bẫy hạ gục quân địch. Khi địch vào đến cửa sông, Ngô Quyền cho toán quân nhỏ ra đánh nhử, quân Nam Hán hăm hở đuổi theo mà không biết đã đi qua bãi cọc ngầm, đến khi nước triều rút xuống, quân ta đánh quật ngược trở lại, quân địch trở tay không kịp, tháo chạy không xong. Thuyền địch bị mắc cạn trên bãi cọc ngầm, quân địch bỏ thuyền chạy xuống sông, quân thì bị giết quân thì chết đuối. Quân ta tấn công rất quyết liệt, con trai vua Nam Hán Hoằng Tháo cũng bị giết, vua Nam Hán hốt hoảng ra lệnh rút quân, quân ta toàn thắng. Có thể nói chiến thắng này giống như một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc ta. Em hy vọng sẽ có một ngày được đến thăm trận địa cọc ngầm trên sông Bạch Đằng để thấy được những chứng tích hào hùng cho tinh thần bất khuất, quật cường của quân Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh, mẫu số 2 ChuẩnEm đã từng được nghe rất nhiều những câu chuyện về lịch sử nước nhà, về những người anh hùng hào kiệt. Một trong những câu chuyện đó là cuộc khởi nghĩa của Lý Bí vào mùa xuân năm 542. Lý Bí vốn là người gốc Trung Quốc nhưng sang nước ta lập nghiệp và từ lâu đã có lòng căm ghét bọn đô hộ phương Bắc. Nhà Lương đô hộ nước ta và siết chặt ách đô hộ bằng cách phân biệt đối xử với người Việt, chỉ có tôn thất nhà Lương và những người dòng họ lớn mới được giữ chức vụ quan trọng. Trước những chính sách cai trị hết sức tàn bạo cùng với hàng trăm thứ thuế vô lý, Lý Bí vốn làm quan giữ chức chỉ huy quân đội ở Đức Châu Nghệ An - Hà Tĩnh vì căm ghét đã từ quan về ở ẩn và ngấm ngầm lên kế hoạch cùng các hào kiệt trong vùng để nổi dậy. Khi Lý Bí phất cờ khởi nghĩa ở quê hương Thái Bình mạn Sơn Tây vào mùa xuân năm 542 đã được rất đông đảo hào kiệt khắp nơi hưởng ứng, nhờ đó mà chỉ trong chưa đầy ba tháng quân ta đã giành lại chủ quyền khắp các quận huyện. Trước sự hùng mạnh của nghĩa quân Lý Bí nhà Lương đã phải đưa quân sang đàn áp, nhưng quân ta lại chủ động lật ngược tình thế chủ động kéo quân lên phương bắc đánh bại quân Lương. Đến năm 543 quân Lương lại tiếp tục kéo quân sang đàn áp và quân ta lại một lần nữa cho thấy sức mạnh của mình, đánh một trận ác liệt khiến cho quân nhà Lương mười phần thì chết đến bảy, tám phần. Cuối cùng các tướng địch đã bị giết gần hết, Lý Bí lên ngôi vua lấy hiệu là Lý Nam Đế, thành lập nhà nước Vạn Xuân. Cuộc khởi nghĩa của Lý Bí em cảm nhận được sự đồng lòng, ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân ta, vì căm ghét bọn đô hộ mà quyết tâm đi theo khởi nghĩa, quyết tâm giành lại độc lập, tự chủ. 3. Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh, mẫu số 3Trong chuyến đi tham quan tại đền thờ Hai Bà Trưng tại huyện Mê Linh - Đông Anh - Hà Nội, em đã được nghe kể lại cuộc khởi nghĩa anh hùng của hai chị em Trưng Trắc - Trưng Nhị. Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai chị em trong một gia đình dòng dõi Hùng Vương, từ lâu đã ngầm liên kết với các thủ lĩnh trên khắp đất nước để chờ thời cơ nổi dậy giành lại chính quyền. Vào mùa xuân năm 40 cuộc khởi nghĩa nổ ra, với lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần khởi nghĩa quật cường, dũng cảm, quyết liệt, quân ta nhanh chóng đánh bại kẻ thù, chiếm lại Mê Linh rồi đánh tiếp đến Cổ Loa, Luy Lâu. Quân ta đi đến đâu quân địch sợ hãi đến đó, không có sức mạnh nào có thể đánh bại sự đoàn kết đồng lòng của nghĩa quân, quân ta đánh cho giặc tan tác, dẫm đạp lên nhau mà tháo chạy, Tô Định sợ hãi đến mức phải bỏ thành, cắt tóc, cạo râu, giả làm người khác để lẩn trốn về Trung Quốc. Quân của ta tiếp tục tiến đánh quân Hán ở các quận huyện khác và đều giành được thắng lợi lẫy lừng. Thật tự hào khi dân tộc ta có những vị nữ tướng tài ba, giỏi giang và đầy bản lĩnh như Hai Bà Trưng, các bà đã đánh tan quân thù, làm rạng danh con cháu vua Hùng. 4. Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh, mẫu số 4Xuyên suốt chiều dài lịch sử, tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc ta là một trong số những minh chứng tiêu biểu cho những giá trị vững bền và bất diệt trước vòng xoáy "một đi không trở lại" của thời gian. Điều này đã được in đậm dấu ấn trong những trang sử vẻ vang của dân tộc qua những trận chiến đối đầu với giặc ngoại xâm đầy khốc liệt. Trong suốt chiều dài lịch sử hào hùng của dân tộc ta, chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 đã mở ra một trang sử mới cho dân tộc, đánh dấu sự kết thúc và chấm dứt hơn một nghìn năm chế độ phong kiến phương Bắc đô hộ nước chiến đấu trên sông Bạch Đằng tuy diễn ra vào năm 938 nhưng được nhen nhóm và bắt nguồn từ một sự kiện diễn ra vào năm 931. Lúc bấy giờ, nước ta chưa có quốc hiệu chính thức và được gọi với tên là Tĩnh Hải quân. Trước sự đàn áp của quân Nam Hán - một trong số mười nước lớn mạnh và tôn xưng là "Ngũ đại Thập quốc", người anh hùng Dương Đình Nghệ đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống lại quân Nam Hán. Sau chiến thắng này, Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ và và giành được quyền tự chủ cho Tĩnh Hải quân. Tuy nhiên, 6 năm qua đi, binh biến bất ngờ xảy ra, để thỏa mãn tham vọng về quyền lực, một nha tướng của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn đã làm phản để cướp ngôi Tiết độ sứ. Ngô Quyền vốn là một tướng sĩ dưới trướng Dương Đình Nghệ, bất bình trước hành động phản bội của Kiều Công Tiễn đã tập hợp một số binh lính trung thành và nghĩa khí để trừng trị, tiêu diệt kẻ cướp ngôi. Lúc bấy giờ, Kiều Công Tiễn tuy đã trở thành Tiết độ sứ nhưng lại hết sức lo sợ trước đội quân của Ngô Quyền, vì thế mà y đã cầu cứu sự giúp đỡ của quân Nam Hán để bảo vệ tính mạng cũng như quyền lực của bản thân. Hành động này của hắn đã khiến cho quân Nam Hán một lần nữa đặt bước chân xâm lược lên bờ cõi nước ta. Lưu Nghiễm - vua Nam Hán đã cử con trai thứ 9 là Lưu Hoằng Tháo thống lĩnh và đưa quân tiến vào nước ta. Đó chính là bối cảnh rộng diễn ra cuộc chiến đấu trên sông Như năm 938, cuộc chiến đấu chính thức diễn ra với hai sự kiện chính là Ngô Quyền giết chết kẻ phản bội Kiều Công Tiễn và đánh bại quân Nam Hán. Ngay sau khi tập hợp một đội quân bao gồm những binh lính và tướng sĩ trung thành, Ngô Quyền đã nhanh chóng cô lập và tiệu diệt Kiều Công Tiễn, lúc này quân Nam Hán với danh nghĩa bảo vệ Kiều Công Tiễn vẫn chưa tiến vào biên giới nước âm mưu nhanh chóng chiếm lại Tĩnh Hải quân tên gọi của đất nước ta thời bấy giờ, vua Nam Hán đã chỉ thị Lưu Hoằng Tháo thực hiện chiến lược đánh nhanh thắng nhanh bằng việc đưa các chiến thuyền tiến vào sông Bạch Đằng. Trước tình thế này, Ngô Quyền đã bình tĩnh phân tích điểm mạnh của yếu của địch. Ông nắm rõ việc giết chết Công Tiễn trước đã chặt đứt đi cánh tay nội ứng của địch, khó khăn duy nhất của quân dân ta lúc này chính là những chiến thuyền mạnh mẽ và to lớn của chúng. Vì thế, ông đã bàn bạc với các tướng lĩnh để diệt trừ điểm mạnh này của kẻ địch. Ngô Quyền đã dựa vào thế nước cũng như đặc trưng thủy triều lên xuống của dòng sông Bạch Đằng để đưa ra kế sách chống địch. Những chiếc cọc lớn có bịt sắt nhọn đã được chế tạo và đóng xuống sông dưới mệnh lệnh của Ngô Quyền. Lúc nước lên cao, thủy triều trở thành chiếc màn che hoàn hảo khiến những chiếc cọc được ngụy trang một cách khéo léo. Ngô Quyền đã chỉ huy một đội quân dụ quân địch vào khu vực thượng lưu con sông - nơi mà những chiếc cọc bịt đầu sắt đang ẩn dưới làn thủy triều. Hoằng Tháo vốn hiếu thắng, chưa có kinh nghiệm chiến đấu, lại thấy quân ta sử dụng phương tiện là những chiếc thuyền nhẹ, nên đã vội vàng cho quân đuổi theo. Đợi lúc thủy triều rút hẳn, những chiếc cọc bịt đầu sắt nổi lên chọc thủng những chiến thuyền của quân địch, Ngô Quyền lập tức hạ lệnh cho quân ta phản công, và kết quả đã dành chiến thắng vang dội, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng và hơn một nửa binh sĩ của quân Nam Hán tử trận. Vua Nam Hán là Lưu Cung đang tiếp ứng ở biên giới cũng không kịp xoay sở trước thất bại này và ngậm ngùi gom đám tàn binh về thắng đầy hiển hách của quân dân ta trước đội chiến thuyền và đội quân hùng mạnh của quân Nam Hán đã để lại những bài học lịch sử vô cùng sâu sắc. Trước hết, nó đã thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược và vai trò lịch sử của người anh hùng Ngô Quyền. Nhờ nắm rõ địa thế nước ta cùng tài mưu lược, ông đã đề ra một chiến lược đúng đắn, đánh tan âm mưu xâm lược và đô hộ nước ta của quân Nam Hán. Không những vậy, sau chiến thắng này, Ngô Quyền đã lên ngôi vua vào năm 939, lấy hiệu là Ngô Vương, lập ra nhà Ngô và chọn Cổ Loa làm nơi đóng đô, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc ta sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc. Trận chiến hiển hách này còn thể hiện rõ ý chí cùng tinh thần bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm, bảo vệ giang sơn bờ cõi của quân và dân ta và làm ngời sáng hơn nữa ngọn lửa yêu nước luôn rực cháy trong trái tim của mỗi một con người Việt thắng trên sông Bạch Đằng vào năm 938 không những lưu danh sử sách mà còn được ghi nhận trong rất nhiều tác phẩm văn học. Dưới ngòi bút của tác giả Nguyễn Trãi, trận chiến này trở thành ví dụ điển hình cho việc khẳng định sự thất bại tất yếu của giặc ngoại xâm "Lưu Cung tham công nên thất bại" trích "Bình Ngô đại cáo". Thông qua những chiến công này, chúng ta càng hiểu rõ và tự hào hơn nữa về những trang sử đầy vẻ vang của dân tộc. Văn tự sự là dạng làm văn kể chuyện hay tường thuật lại những sự việc hay câu chuyện cho người nghe và người đọc hiểu được. Bên cạnh bài làm văn Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh, học sinh và giáo viên tham khảo thêm những bài làm văn mẫu như Kể lại một câu chuyện cổ tích mà em biết theo lời một nhân vật trong truyện đó Kể lại một lần em cùng bố, mẹ hoặc anh, chị đi thăm mộ người thân trong ngày lễ, tết, Kể về một anh hùng chống ngoại xâm mà em biết, Kể về một người có ý chí nghị lực mà em biết hoặc được nghe kể, Kể lại một trận thi đấu bóng đá rất nhiều những bài văn mẫu hay khác các bạn cùng theo dõi nhé.
Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã học, đã nghe, đã xem trên màn ảnh, ở trong bài viết sau sẽ cho các em học sinh một lời giải hay và chi bài viết số 2 lớp 9 đề 3 này, chúng tôi sẽ hướng dẫn các em cách viết dàn ý chi tiết và bài văn mẫu với đề bài “Kể lại một trận chiến đấu ác liệt”. Đây là nguồn tài liệu tham khảo rất hữu ích đối với các em học sinh lớp 9 trong bài viết số 2 sắp tới. Mời các em cùng theo lại một trận chiến đấu ác liệt ở bài viết số 2 lớp 9 đề 3 cực hayContent1 Dàn ý kể lại một trận chiến đấu ác Mở Thân Khái quát về trận Diễn biến chính của trận chiến diễn ra như thế nào? Ý nghĩa lịch sử của trận chiến em vừa Kết bài2 Bài văn kể lại một trận chiến đấu ác liệtDàn ý kể lại một trận chiến đấu ác liệtMở bàiGiới thiệu về trận chiến đấu ác liệt mà em sắp kểTrải qua hàng nghìn năm lịch sử, đất nước ta đã có biết bao nhiêu cuộc chiến đấu ác liệt để bảo vệ bờ chiến Ngọc Hồi – Hà Hồi là trận để lại trong em nhiều cảm xúc bàiKhái quát về trận đấu Em biết đến trận chiến này thông qua đâu? Qua sách báo, tivi, truyện hay nghe người khác kể lại.Thời gian diễn ra trận chiến? Địa điểm diễn ra trận chiến? Nguyên nhân nào dẫn đến trận chiến này? Chống giặc ngoại xâm nào?Người lãnh đạo cuộc chiến đấu là ai?Diễn biến chính của trận chiến diễn ra như thế nào?Giai đoạn chuẩn bị chiến đấuGiai đoạn tấn côngKết quả của trận chiến Bên nào bại, bên nào thắng? Miêu tả không khí chiến thắng, nét mặt, nụ cười của người lính, quang cảnh hoang tàn sau trận chiến,…Lưu ý Ở phần này, các em nên kết hợp miêu tả tư thế, hành động của phe ta và phe địch; Quang cảnh của trận chiến như thế nào?,… Khi kể, chú ý làm nổi bật vai trò của vị tướng chỉ huy tài giỏi, anh dũng. Có thể thêm vào một vài chi tiết thể hiện tinh thần quả cảm của quân dân nghĩa lịch sử của trận chiến em vừa kểGiành lại nền độc lập cho dân tộc Việt Nam chúng đổ âm mưu xấu xa của nhà Thanh, đặt nền tảng thống nhất quốc bàiTrình bày cảm xúc, suy nghĩ của em về trận chiến đấu liên hệ với bản thân và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong thời đại hòa văn kể lại một trận chiến đấu ác liệtChiến tranh là điều mà không một ai mong muốn xảy ra. Mỗi cuộc chiến đi qua đều để lại những vết thương khó lành cho cả người tham chiến và người ở lại. Thế nhưng một khi bờ cõi nước nhà bị xâm lăng, quân dân ta buộc phải đứng lên chiến đấu với quân địch tàn ác . Suốt chiều dài lịch sử Việt Nam có biết bao nhiêu cuộc chiến ác liệt, thế nhưng trận chiến để lại trong em nhiều cảm xúc nhất khi đọc đó chính là trận Ngọc Hồi – Hà Hồi diễn ra vào năm 1789. Cùng quay ngược thời gian trở về thời kì phong kiến của nước ta, giai đoạn mà vua Quang Trung đại phá quân Thanh nhằm bảo vệ đất nước khỏi thế lực phương Đại Việt giai đoạn cuối thế kỷ 18 chia cắt bởi nhiều thế lực. Họ tranh nhau nhằm mục đích chiếm giữ đất nước. Lê Chiêu Thống lúc này đang cai trị ở phía Bắc thất thế bèn cầu cứu nhà Thanh. Viện cớ sang giúp triều đình nhà Lê, quân Thanh tiến vào nước ta mà không hề tổn hại một binh lính nào. Vì được vua Lê nhượng bộ, quân Thanh ra sức vơ vét, đàn áp dân ta và gây ra biết bao tội ác. Thật tàn nhẫn biết bao!Nghe tin, Nguyễn Huệ lập tức xưng ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung vào năm 1788. Nhà vua họp bàn và quyết định tiến quân ra phía Bắc, đây trở thành cuộc hành quân thần tốc nhất trong lịch khi chiến đấu, vua Quang Trung khích lệ tinh thần các chiến sĩ, cho họ ăn Tết sớm để có nhuệ khí chiến đấu. Khi hội quân ở Tam Điệp, ông đã thưởng phạt các binh lính một cách hợp lý. Ông đã dùng tội biến thành cơ hội để họ sửa chữa. Đúng là một con người anh minh, sáng suốt, có tầm nhìn xa trông rộng và biết dùng người! Cả đoàn quân của vua Quang Trung hành quân ngày đêm không Trung vì đã nắm được kế hoạch của nhà Thanh nên đã chia quân Tây Sơn ra làm 5 đạo chính. Vào đêm giao thừa Tết Kỷ Dậu, đạo quân của Quang Trung đã vượt sông Gián Thuỷ, mở màn cho cuộc đại phá quân đêm mùng 3 Tết Kỷ Dậu, quân Tây Sơn bí mật dàn trận bao vây đồn Hà Hồi, uy hiếp địch và bắt sống hàng vạn quân Thanh. Mùng 4 Tết, quân Tây Sơn chuẩn bị tiếp cận Ngọc Hồi. Dưới sự lãnh đạo tài ba của Quang Trung, quân ta vây kín làng rồi sai bắc loa kêu gọi quân Thanh đầu hàng. Quân Thanh bị bất ngờ trước sự tiến công quá nhanh của quân Tây Sơn, không kịp kháng cự, vội vàng ra hàng và để mất hết lương thực, binh khí vào tay quân Tây Sơn. Càng về sau, vua Quang Trung càng chứng tỏ được tài năng của mình. Ông có cách đánh giặc đầy mưu trí, khéo léo, vừa không làm tổn thất quân ta, vừa giành được thắng lợi nhanh quân của Quang Trung trông rất hùng hậu, chỉ cần nhìn thôi cũng đủ khiếp sợ. Vua Quang Trung đích thân đốc thúc đại quân, tiến sát đến đồn Ngọc Hồi vào tờ mờ sáng mồng 5 Tết. Quân Tây Sơn bao vây đồn mà quân Thanh không hề hay biết. Khi phát hiện đã bị bao vây, quân Thanh lợi dụng hướng gió Bắc, tung khói lửa về hướng quân Tây Sơn. Nhưng không ngờ trời đột ngột đổi gió khiến quân Thanh tự làm hại mình. Lợi dụng tình thế rối ren đó, quân Tây Sơn thừa thắng xông lên. Tiếng gươm giáo va chạm vào nhau nghe thật ác liệt. Nhờ lợi thế về tình hình thời tiết cũng như địa hình, quân ta đã giành được ưu thế. Vua Quang Trung oai phong, lẫm liệt ngồi trên voi dẫn đường. Đoàn quân cứ thế xông lên tiêu diệt phe địch một cách dễ đội quân của vua Quang Trung bao vây, đồn Ngọc Hồi rơi vào thế thất thủ. Xác của quân địch nằm la liệt trên đất. Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử, số quân địch còn lại bị bắt làm tù binh. Sáng mùng 5 tiến công và chỉ tới trưa, quân Tây Sơn đã chiếm xong đồn Ngọc Hồi. Vua Quang Trung cùng quân đội tiến vào thành trong sự chào đón nhiệt liệt của người Ngọc Hồi – Hà Hồi đại thắng đã chứng tỏ nghệ thuật quân sự tuyệt vời của quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của vua Quang Trung. Sau trận chiến đấu giành thắng lợi vĩ đại này, dân tộc ta đã đập tan khát khao xâm lược của quân Thanh, giải phóng hoàn toàn kinh thành Thăng Long, giữ vững nền độc lập cho nước nhà. Không những thế, chiến thắng này còn đánh dấu việc nhà Tây Sơn chính thức thay nhà Hậu Lê trong việc cai quản đất nước và trong quan hệ với nhà công thần tốc đại phá quân Thanh đã trở thành một vết son chói lọi trong lịch sử nước nhà. Qua đó, ta thấy được trách nhiệm của thế hệ con cháu sau này trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Như Bác Hồ đã từng nói” Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.Đối với đề bài “Kể lại một trận chiến đấu ác liệt trong lịch sử” được đề cập trong bài viết số 2 lớp 9 như trên, các em học sinh cần dựa trên những tài liệu lịch sử và kiến thức đã học cùng lời văn tự sự hấp dẫn để kể lại diễn biến trận đánh một cách chi tiết và chuẩn xác nhất. Vậy là chúng tôi đã hướng dẫn các em xây dựng dàn ý cơ bản và bài văn mẫu cho bài văn ”Kể về một trận đánh ác liệt”. Các em có thể dựa vào đó để tham khảo cho bài tập làm văn sắp tới của mình. Chúc các em đạt điểm thêm Đóng vai ông họa sĩ kể lại truyện Lặng lẽ Sa Pa chi tiết Văn Học Lớp 9 -Đóng vai ông họa sĩ kể lại truyện Lặng lẽ Sa Pa chi tiếtDàn ý và bài văn thuyết minh về hoa đào ngày Tết hayDàn ý tưởng tượng 20 năm sau về thăm trường cũ hay nhấtNghị luận về lòng tự trọng hay nhất Dàn ý + Văn Mẫu Cảm nhận khổ 4, 5 bài Mùa xuân nho nhỏ hay nhấtĐóng vai ngư dân kể lại Đoàn thuyền đánh cá của Huy CậnCảm nhận khổ 2 bài Sang thu của nhà thơ Hữu Thỉnh
Bài viết số 2 lớp 9 đề 3Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc, đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh là tài liệu tham khảo môn Ngữ văn lớp 9 hay dành cho thầy cô và các bạn học sinh. Hi vọng tài liệu này giúp các bạn biết cách làm bài văn kể truyện, tránh lạc đề khi viết văn. Mời quý thầy cô cùng các bạn cùng tham khảo các bài văn mẫu kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh dưới ý Kể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọca. Mở bàiĐất nước ta đã có bao nhiêu trận chiến đấu các liệt với những chiến công hiển chiến đấu… đã để lại cho em những cảm xúc khó Thân bài+ Kể khái quát về trận chiến đấuDiễn ra vào năm nào? Ở đâu? Ở thời kì nào? Chống giặc ngoại xâm nào? Mục đích của trận chiến đấu?Em đã được biết về trận chiến ấy từ ông bà kể lại hay sau khi học môn Lịch sử hoặc sau khi xem phim?+ Kể lại diễn biến chính của trận chiến đấu qua các giai đoạn- Chuẩn bị, phòng công tư thế chủ động, tinh thần dũng cảm, quyết chiến quyết thắng của quân ta; sự chống trả của địch…Lưu ý Kết hợp miêu tả tư thế, hành động của ta, của địch; tả quang cảnh của trận chiến… Khi kể, chú ý làm nổi bật vai trò của vị chỉ huy tài giỏi, anh dũng và một vài chi tiết thể hiện tinh thần quả cảm của quân Kể lại kết quả của trận chiến đấuQuân ta chiến thắng kết hợp với miêu tả không khí chiến thắng, nét mặt, nụ cười của những người lính và những hi sinh mất mát… Quân địch thất bại kết hợp với miêu tả không gian hoang tàn sau trận chiến, hình ảnh những tên lính còn sống sót…+ Ý nghĩa của trận chiến đấu trong lịch sửc. Kết bàiCảm xúc, suy nghĩ của em về trận chiến đấu ác liệt ấy Tự hào về lòng yêu nước của các thế hệ cha ông, về những trang sử vàng của dân tộc nghĩ, liên hệ tới bổn phận của cá nhân và thế hệ sauKể lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc mẫu 1Mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, quân của Nguyễn Huệ nước An Nam vượt sông Gián Thủy đánh bại quân phòng thủ của Lê Duy Kỳ Lê Chiêu Thống, lại bắt toán quân Thanh tuần thám giết sạch. Ngày mồng hai, Tôn Sĩ Nghị được tin hoảng hốt ngự địch, ra lệnh Tổng binh Trương Triều Long mang ba ngàn quân tăng cường cho các đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi để chống cự, lại ra lệnh cho ề đốc Hứa Thế Hanh mang một ngàn năm trăm tên, tự đốc suất một ngàn hai trăm tên để tiếp ứng. Quân Nguyễn Huệ tiến tới đông như ong, vây đồn bốn phía, đánh nhau một ngày một đêm, quân Thanh bị đánh tan bèn bỏ canh năm ngày mồng 5 Nguyễn Văn Huệ mang đại binh tiến đánh, thân tự đốc chiến, dùng một trăm thớt voi khỏe làm tiên phong. Rạng sáng quân Thanh cho kỵ binh nghênh đón địch, ngựa bị voi quần kinh hãi bỏ chạy, quân rút lui vào trại cố thủ. Phía ngoài trại, lũy đầy chông sắt, bên trong bắn súng ra cự địch. Vào giờ Ngọ quân Nguyễn bắn hỏa châu, hỏa tiễn tới tấp; lại dùng rạ bó to lăn mà tiến đều, khinh binh theo sau, trước ngã sau tiến lên một lòng quyết chiến, tại các trại quân Thanh đồng thời tan vỡ, quân Nguyễn thừa thắng chém giết, quân Thanh tử thương quá đốc Hứa Thế Hanh thấy thế lực nhiều ít rõ ràng, bảo gia nhân đem ấn triện ề đốc mang đi, rồi ra sức đánh, bị chết tại trận. Lúc này quân địch càng bị giết càng nhiều, chia cắt quân Thanh từng nhóm rồi vây kín. Thống soái Tôn Sĩ Nghị mất liên lạc với Hứa Thế Hanh và các đại viên ề, Trấn; bèn ra lệnh Phó tướng Khánh Thành, ức Khắc Tinh Ngạch mang ba trăm quân đoạt vây chạy về phía bắc. Khi tàn quân của Tôn Sĩ Nghị chạy đến bờ sông, thì số quân Thanh ba ngàn tên trú đóng tại bờ phía nam đã được Tổng binh Thượng Duy Thanh mang đi tiếp ứng cho Hứa Thế Hanh, bèn ra lệnh cho Tổng binh Lý Hóa Long vượt qua cầu nổi chiếm cứ bờ phía bắc, để tiện việc yểm hộ qua sông. Không ngờ Lý Hóa Long đi đến giữa cầu, trượt chân rơi xuống nước chết, số quân mang đi kinh hãi không biết làm gì. Tôn Sĩ Nghị ra lệnh Khánh Thành yểm hộ mặt sau bằng cách bắn súng điểu thương vào quân Nguyễn Văn Huệ đang truy kích, riêng mình tự mang quân theo cầu nổi lui về bờ phía bắc; rồi lập tức cho chặt đứt cầu nổi, cùng với bọn Khánh Thành rút lui về sông Thị Thanh tại phía nam sông thấy cầu đã bị đứt chìm, không có đường về, bèn đánh trở lại thành nhà Lê. Các Tổng binh Thượng Duy Thăng, Trương Triều Long, Phó tướng Na ôn Hành, Tham tướng Dương Hưng Long, Vương Tuyên, Anh Lâm đều tử trận. Tri châu iền Châu Sầm Nghi ống không được viện binh đành tự tử, số thân binh tự tử cũng đến hàng trăm. Quốc vương An Nam Lê Duy Kỳ vào lúc binh thua tới dinh Tôn Sĩ Nghị họp bàn, thấy Tôn Sĩ Nghị đã bỏ chạy, bèn hoảng hốt vượt sông chạy lên phương bắc, đến đây nhà Lê diệt Văn Huệ xua quân tiến vào thành, chiến bào mặc trên người nhuốm đen, do bởi thuốc súng. ề đốc Ô ại Kinh mang đạo quân Thanh tại Vân Nam xuất phát từ Mã Bạch quan vào ngày 20 tháng 11 năm ngoái, đến Tuyên Quang vào ngày 21 tháng 12; khi đến sông Phú Lương thấy cầu nổi bằng tre đã bị chìm đứt, nhìn sang bên kia bờ thấy lửa rực bốn phía, bèn triệt hồi Tuyên Quang, rồi lập tức lui vào trong chiến vẫn còn tiếp tục, nhưng rõ ràng rằng phần thắng sẽ thuộc về những lý tưởng chiến đấu vì chính nghĩa. Tinh thần hy sinh và tài năng của dân tộc ta một lần nữa được khẳng định với bạn bè năm châu khi một lần nữa nhắc lại chiến công oai lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc mẫu 2Đêm đã rất khuya…Ngoài trời, những vệt sáng mờ mờ đầu tiên của một ngày mới đã xuất hiện. Trong những xóm làng gần đó đã cất lên thưa thớt vài ba tiếng gà gáy vang yên lặng bao phủ toàn doanh trại. Các binh sĩ đều đã đi ngủ cả, chỉ nghe tiếng thở đều nhè nhẹ, tiếng cuốc kêu não nuột vang trong đêm vắng. Nhưng trong bóng tối và cái tĩnh mịch ấy, ở một góc trại, vẫn còn một ánh đèn chiếc đèn dầu gần cạn chỉ còn le lói, vị chủ tướng đang ngồi trầm ngâm, mắt đăm đăm nhìn về phía trước. Trên bàn, cuốn binh thư đọc dở nằm im như chờ đợi. Ánh sáng yếu ớt hắt lên khuôn mặt suy tư, đôi mày nhíu lại, chòm râu đen và đôi mắt sáng rực như hai vì sao. Đó chính là Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo. Làm cách nào? Làm cách nào? Trong đầu vị chủ tướng vẫn trăn trở câu hỏi. Chỉ còn một ngày nữa thôi, vào rạng sáng, đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi sẽ xuôi dòng Bạch Đằng để rút về nước. Đây là thời cơ thuận lợi để quân ta phản công, để giải phóng đất nước. Thời gian đã gấp rút lắm rồi. Vậy mà ông chưa nghĩ ra cách đánh nào thích hợp, đảm bảo chiến thắng cho quân ta. Đánh địch đã khó nhưng chiến thắng chúng còn khó khăn hơn rất nhiều lần !Trần Hưng Đạo chợt nhớ bài học lịch sử xa xưa – năm 938, Ngô Quyền đã đánh thắng quân Nam Hán… Đúng rồi, chỉ có cách đánh của Ngô Quyền mới thật là thượng sách. Trong ông luồng nhiệt huyết lại bốc cháy bừng bừng, ông thầm cảm ơn vị dũng tướng họ Ngô đã cho ông một ý tưởng. Vừa lúc đó, gà gáy báo trời đã sáng Hưng Đạo ban lệnh toàn quân vào rừng đẵn gỗ làm cọc. Dân chúng cũng hồ hởi đì theo giúp. Họ đẵn những cây gỗ chắc khoẻ như lim hay táu. Cây đổ ầm ầm. Khắp nơi chỉ nghe tiếng rìu, tiếng cưa ồn ào, náo động. Người ta dùng dao, dùng rìu chuốt nhọn đầu những thanh gỗ thành những cọc nhọn cao quá đầu người, có cái cao đến hai trượng sáu, to đến nỗi một vòng ôm mới đủ. Đầu nhọn được lấy sắt bọc lại, lúc này mỗi chiếc cọc trở thành một thứ vũ khí vô cùng lợi hại cho những gì sẽ va vào cảnh làm việc như vậy, Trần Hưng Đạo rất hài lòng. Ông sung sướng ngắm nhìn những chiếc cọc nhọn mà tin tưởng vào chiến thắng sắp tới. Sau khi cọc đã đủ, Trần Hưng Đạo cho đóng cọc xuống khúc sông gần ngã ba sông Chanh. Đây quả là một địa thế thuận lợi do thuỷ triều lên xuống nhanh và đây, những người lặn giỏi như Yết Kiêu lại có dịp trổ tài. Ở trên, những thanh niên khoẻ mạnh ngồi trên thuyền, đưa những chiếc cọc nặng xuống dưới, cắm sâu vào lòng sông. Còn dưới mặt nước, những người thợ lặn đã chờ sẵn. Họ đỡ những chiếc cọc, thận trọng chỉnh lại hướng và độ vững chắc trước khi ngoi lên. Người đâm, kẻ đỡ thật ồn ào náo bờ, Trần Hưng Đạo ngắm nhìn trận địa cọc đang dần hình thành. Lúc này thuỷ triều đang rút, ta có thể nhìn thấy những cọc nhọn hoắt nhô lên trông thật nguy hiểm. Cọc này sát với cọc kia như bàn chông, đứng vững như bàn thạch, không hề suy chuyển khi bị những cơn sóng to ập vào. Ông mỉm cười sung sướng rồi đích thân chuẩn bị ở hai bên bờ. Những toán quân khoẻ mạnh, nhanh nhẹn được chọn ra. Những bùi nhùi, đá lửa, rơm rạ, dầu cùng những thứ dễ cháy đã được bà con giấu sẵn vào luồng lạch hoặc hai bên bờ những nơi lau lách um tùm rậm rạp gần đó để phóng hoả khi cần làm việc nọ, kẻ giúp việc kia, thật khẩn trương nhưng vẫn chu đáo, cẩn trọng. Họ thi nhau đóng những chiếc thuyền nhỏ, nhẹ, bằng gỗ chuẩn bị cho cuộc tiến lúc ấy, trên bờ những quân sĩ còn lại cũng không chịu ngồi yên. Họ rèn đúc khí giới, mài dao thêm sắc, mài gươm thêm nhọn, chuẩn bị cung tên. Nhóm thì đấu vật, nhóm thì đấu gươm. Tinh thần hăng hái không kể đầu cho thoát đến chiều tối thì mọi việc cũng đã xong. Những quân sĩ vẫn chưa ngủ. Họ ngồi lại nghe một người đọc lại bài hịch của Hưng Đạo Vương “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng…”. Lời hịch vang lên khiến lòng người rạo rực, bừng bừng trong máu, trong tim. Doanh trại lại ồn ào tiếng múa gươm, múa kiếm sôi động nhộn nhịp. Tưởng như đang diễn ra một cuộc chiến đã điểm canh hai, tờ mờ sáng, bỗng gần cửa sông Bạch Đằng xuất hiện một đoàn thuyền chiến dài dằng dặc làm chật cả khúc sông. Những cánh buồm làm thẫm màu nước. Chiêng trống vọng ra ầm ầm như sấm, như sét… Quanh hai bên bờ không một bóng người. Lúc này thuỷ triều đang dâng lên cao, chỉ thấy mênh mông màu nước trắng xoá, những bụi lau lách ven bờ. Thỉnh thoảng vọng lại vài tiếng chim thưa thuyền, Ô Mã Nhi đang nằm ung dung trên đệm gấm, mừng rỡ nói với các tướng “Quân Trần thấy ta là sợ mất mật, còn sức đâu mà đánh!”. Y lại càng yên tâm hơn vì sắp ra đến biển rồi, quân ở đâu ra cũng khó cản đường một đoàn thuyền đông đúc! Thuyền chậm lại dậy lên tiếng trống, tiếng chiêng đầy náo nức, vọng hết cả mặt sông. Từng đàn chim bay loạn xạ từ những bụi cây. Ô Mã Nhi giật mình chạy ra ngoài nhìn. Tiếng trống vẫn cứ rộn rã. Quân Nguyên đang ngơ ngác, bỗng thấy trước mặt xuất hiện một đoàn, thuyền nhẹ. Trên con thuyền dẫn đầu là tướng quân Nguyễn Khoái, tay cầm một thanh đao, thét lớn “Ồ Mã Nhi, ta chờ mày ở đây lâu rồi, mày chạy đâu cho thoát”. Nguyễn Khoái đứng hiên ngang, thân thể cao lớn, vững như tượng đồng, cùng quân sĩ tấp vào thuyền giặc. Tiếng trống vang vang. Những mũi tên bay từ đâu tới tấp vào quân giặc. Ô Mã Nhi giơ khiên lên đỡ, cùng người tướng là Phàn Tiếp xông ra Nhưng vừa đánh nhau một lúc, bỗng Nguyễn Khoái thét lớn với quân sĩ “Anh em, sức giặc còn mạnh, người còn đông, chưa thể hạ được, chúng ta rút lui!”. Quân sĩ dạ ran. Rồi đoàn thuyền nhỏ chèo nhanh trở lại một trận chiến đấu ác liệt mà em đã đọc đã nghe kể hoặc đã xem trên màn ảnh mẫu 3Trong thế kỷ XIII, dân tộc Việt Nam đã lập nên những chiến công vĩ đại ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông xâm thứ nhất xảy ra vào tháng Giêng năm 1258. Bấy giờ, vua chúa Mông Cổ đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm Trung Quốc. Bên cạnh những đạo quân ồ ạt đánh vào đất Tống, một đạo quân khoảng bốn vạn người, gồm kỵ binh Mông Cổ và binh lính người Thoán Vân Nam, do tướng Ngột Lương Hợp Thai Uryangquadai chỉ huy, từ Vân Nam đánh xuống Đại Việt. Vua Trần là Thái Tông đã đem quân lên chặn giặc ở Bình Lệ Nguyên, bên sông Cà Lồ. Nhưng sau đó, quân ta rút lui để bảo toàn lực lượng trước thế mạnh ban đầu của ta rút lui, bỏ Thăng Long lại phía sau, nhưng Triều đình nhà Trần và quân dân vẫn không nao núng. Vua tôi nhà Trần đã bàn phương lược đánh giặc trên những con thuyền xuôi sông Hồng. Khi được Thái Tông hỏi ý kiến, Thái sư Trần Thủ Độ đã trả lời ''Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo".Giặc đóng ở Thăng Long, trong một tòa thành trống, đã khốn đốn vì thiếu lương thực. Chúng cố đánh ra xung quanh để cướp lương thực, nhưng ở đâu cũng gặp sức chống trả mãnh liệt của nhân dân. Vì vậy mà chỉ sau 9 ngày, chúng đã vô cùng hốt hoảng. Đó chính là thời cơ để quân ta phản công. Ngày 29-1-1258, Vua Trần Thái Tông đã đem binh thuyền ngược sông Hồng tiến về Thăng Long. Quân địch bị đánh bật khỏi Kinh thành, theo đường cũ, chạy về Vân Nam. Trên đường tháo chạy, chúng còn bị quân dân các dân tộc thiểu số ở miền núi tập kích, đánh cho tan lần thất bại đó, bọn vua chúa Mông Cổ vướng vào cuộc nội chiến 1259 -1264 và cuộc chiến tranh với Tống 1267-1279 nên chưa thể tiếp tục ngay cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mãi đến năm 1279, nhà Tống mất, toàn bộ đất Trung Quốc đã nằm dưới ách thống trị của nhà Nguyên, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt Quibilai mới chuẩn bị xâm lược nước ta bằng quân sự. Sau khi không thể khuất phục được Đại Việt bằng những sứ bộ ngoại giao, cuối năm 1284, đạo quân Nguyên Mông do Thoát Hoan Toan, con trai Hốt Tất Liệt, và A Lý Hải Nha Ariquaya chỉ huy, đã lên đường, bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ này, ngoài cánh quân lớn của Thoát Hoan đánh vào mặt Lạng Sơn, Vua Nguyên còn sai Nạp Tốc Lạt Đinh Nasirud Din đem một cánh quân từ Vân Nam đánh vào mặt Tuyên Quang, và ra lệnh cho Toa Đô Sogatu đem đạo quân còn đóng ở Bắc Chămpa, đánh vào mặt Nam của Đại một vài trận đánh chặn giặc ở mặt Lạng Sơn và Tuyên Quang, trong tháng 2/1285, quân ta lại rút lui và lần nữa bỏ trốn Thăng Long, kéo về mạn Thiên Trường và Trường Yên Ninh Bình. Và để tránh cái thế bị kẹp vào giữa các gọng kìm của giặc, đại quân và Triều đình chờ cho cánh quân của ba Đô tiến đến Trường Yên Ninh Bình thì rút vào Thanh Hóa. Trong khi một bộ phận lớn quân chủ lực rút, thì khắp nơi, quân địa phương và dân binh các lộ, phối hợp với các cánh quân nhỏ của Triều đình để lại đã không ngừng tập kích, tấn công vào quân địch ở vùng bị chiếm đóng. Kế hoạch ''vườn không nhà trống" được toàn dân thực hiện. Giặc đóng quân phân tán, thiếu lương thực, có nguy cơ bị tiêu diệt. Mùa hè đến, lại giáng lên đầu chúng những tai họa mới. Sử Nguyên chép "Bệnh dịch hoành hành... Nước lụt dâng to, ngập ướt doanh trại... ". Thời cơ phản công của quân ta đã tới. Tháng 5/1285, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn dẫn đại quân tiến ra Bắc. Kế hoạch diệt địch như sau Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải và một số tướng lĩnh được giao nhiệm vụ diệt địch trên phòng tuyến sông Hồng, còn Hưng Đạo Vương, đem quân vòng qua vùng Hải Đông, tiến lên Vạn Kiếp, chặn đường tháo chạy của địch. Cục diện chiến tranh xảy ra đúng như dự liệu cuối tháng 5-1285, Trần Quang Khải cùng với Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản đã đánh tan giặc ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, rồi tiến lên giải phóng Thăng Long. Thoát Hoan hoảng hốt, rút khỏi Thǎng Long, chạy về phía Vạn Kiếp. Đến đây, bọn giặc lọt vào trận địa mai phục của Trần Hưng Đạo, chúng bị thương vong rất nhiều. Đám tàn quân hoảng loạn cố mở đường máu tháo chạy. Nhưng đến biên giới Lạng Sơn, chúng lại bị quân ta chặn đánh. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng rồi bắt quân lính khiêng chạy về nước. Viên đại tướng Lý Hằng đi đoạn hậu, bị tên độc trúng đầu gối, về đến Tư Minh thì khi cánh quân Thoát Hoan chạy về phía Lạng Sơn thì cánh quân Nạp Tốc Lạt Đinh tìm đường tẩu thoát về Vân Nam, cũng bị quân dân ta tập kích, đánh cho tơi bời. Không biết Thoát Hoan đã bỏ chạy, Toa Đô kéo ra Bắc, theo sông Hồng định về Thăng Long, nhưng đến Tây Kết thì bị quân ta chặn đánh. Toa Đô bị chém. Thế là cuộc chiến tranh xâm lược của Nguyên Mông lần thứ hai hoàn toàn thất sau thất bại năm 1258, Hốt Tất Liệt đã ra lệnh chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược mới. Nhưng phải đến cuối năm 1287, các đạo quân viễn chinh mới có thể lên đường. Một đạo do Thoát Hoan và áo Lỗ Xích Agurucxi chỉ huy tiến vào Lạng Sơn. Một đạo khác, do ái Lỗ Airuq cầm đầu, từ Vân Nam đánh vào Tuyên Quang. Lần này, không còn cánh quân phía Nam, nhưng Vua Nguyên lại phái thêm một cánh thủy quân, sai ô Mã Nhi Omar chỉ huy, hộ tống đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ vào Đại Việt theo đường 12/1287, khi đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào vùng biển An Bang Quảng Ninh, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đem thủy quân chặn đánh, nhưng không cản được giặc. Ô Mã Nhi cho binh thuyền tiến thẳng vào cửa sông Bạch Đằng, không chú ý đến đoàn thuyền lương nặng nề chậm chạp ở sau. Mãi đến tháng 1/1288, đoàn thuyền lương của giặc mới tiến đến vùng đảo Vân Đồn. Trần Khánh Dư lại đem quân tập kích. Trương Văn Hổ chống đỡ không nổi, đổ cả lương thực xuống biển, trèo lên một chiếc thuyền nhỏ, trốn về Quỳnh Châu Hải Nam. Bấy giờ, Thoát Hoan cũng đã tiến vào Lạng Sơn, hội quân với cánh quân thủy của ô Mã Nhi ở Vạn Kiếp. Thoát Hoan dừng lại ở đây gần một tháng, xây dựng Vạn Kiếp thành một căn cứ vững chắc, mãi đến cuối tháng 1/1288 mới chia quân tiến về Thăng thứ ba, quân dân nhà Trần lại bỏ ngỏ Thăng Long. Quân Nguyên vào Thăng Long ngày 2/2/1288. Ngay sau đó, Thoát Hoan vội sai ô Mã Nhi đem chiến thuyền ra biển đón thuyền lương của Trương Văn Hổ. Nhưng thuyền còn đâu nữa. Không có lương thực, đạo quân Thoát Hoan đóng ở Thăng Long lâm vào tình thế khốn quẫn. Thoát Hoan phải ra lệnh rút quân về Vạn Kiếp. Trên đường rút về Vạn Kiếp, giặc bị quân ta chặn đánh ở cửa Ba Sông, vùng Phả Lại. Kéo về đóng ở Vạn Kiếp, đạo quân xâm lược vẫn bị quân ta tập kích ngày đêm. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, bọn tướng Nguyên đã nói với Thoát Hoan ''ở Giao Chỉ, không có thành trì để giữ, không có lương thực đủ ăn, mà thuyền lương của bọn Trương Văn Hổ lại không đến. Vả lại khí trời đã nóng nực, lương hết, quân mệt, không lấy gì để chống đỡ lâu được, làm hổ thẹn cho triều đình, nên bảo toàn quân mà về thì hơn" Trước tình hình đó, Thoát Hoan quyết định rút quân về nước theo hai đường cánh quân bộ rút qua vùng Lạng Sơn, còn cánh quân thủy sẽ rút ra biển theo sông Bạch hoạch rút lui của giặc không nằm ngoài dự liệu của Trần Hưng Đạo. ông đã bố trí chặn giặc ở vùng biên giới và chuẩn bị cho một trận quyết chiến lớn trên sông Bạch Đằng. Từ tháng 3, quân sĩ và nhân dân đã đẵn gỗ lim, gỗ táu ở rừng về đẽo nhọn, đóng xuống lòng sông, làm thành những bãi cọc lớn. Thủy quân và bộ binh ta đã phục sẵn trong các nhánh sông và các khu rừng rậm ven sông Bạch Đằng, chờ ngày tiêu diệt ngày 9/4/1288, đoàn thuyền chiến của ô Mã Nhi tiến vào sông Bạch Đằng. Khi đoàn thuyền giặc lọt vào trận địa mai phục của ta thì từ các nhánh sông, các thuyền nhẹ của ta lao ra, đánh tạt vào sườn giặc, dồn chúng vào các bãi cọc. Giặc định áp thuyền sát bờ, đổ quân chiếm lấy núi cao để yểm hộ cho đoàn thuyền rút, nhưng bị bộ binh ta đánh hắt xuống. Một trận kịch chiến ác liệt đã xảy ra. Nước triều xuống gấp, thuyền giặc to nặng, lao nhanh theo dòng nước, vướng cọc, tan vỡ rất nhiều. Cho đến giờ dậu 5-7 giờ tối, toàn bộ đạo quân thủy của giặc bị tiêu diệt. ô Mã Nhi bị bắt sống. Lần thứ ba trong lịch sử giữ nước của dân tộc, dòng Bạch Đằng lại ghi thêm một chiến công oanh liệt. Trong khi đó, đạo quân của Thoát Hoan cũng khốn đốn rút chạy ra biên giới. Sau khi bị phục kích ở cửa ải Nội Bàng, chúng bỏ con đường ra ải Khâu Cấp, vòng theo đường Đan Ba Đình Lập, chạy tạt ra biên giới. Nhưng ở đây, chúng cũng bị quân ta chặn đánh, tướng giặc là A Bát Xích Abaci bị trúng tên. Mãi đến ngày 19/4/1288, đám tàn quân của Thoát Hoan mới về đến Tư thắng Bạch Đằng oanh liệt đã chôn vùi vĩnh viễn mộng xâm lược của Hốt Tất viết số 2 lớp 9 đề 1, 3, 4Bài văn mẫu lớp 9 số 2 đề 1 Tưởng tượng 20 năm sau về thăm trường vào một ngày hèBài văn mẫu lớp 9 số 2 đề 3 Kể lại một việc làm khiến em rất ân hận Bài văn mẫu lớp 9 số 2 đề 4 Kể về một lần đi thăm mộ người thânThuyết minh về di tích lịch sử Bến Nhà RồngNgữ văn lớp 9 Thuyết minh về Dinh Độc LậpNgữ văn lớp 9 Thuyết minh về con chó nhà em
kể lại một trận chiến đấu ác liệt